Trong Số Này:


1. Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.

2. Sơn Hà  Nguy Biến.

3. Nhớ về Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy.

4. Thơ Hồn Việt.

5. Thái Thú  Khiếp Nhược

6. Trách nhiệm cuối đời của một lãnh tụ quốc gia.

7. Nhớ Ơn Người Lính Việt Nam Công Hoà

8.  Ba giờ với luật sư Nguyễn Mạnh Tường

9. Một ít kỷ niệm với Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.

10. VN đang đối diện nguy cơ lớn từ “Bắc triều”.

11.Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy Tổ  Chức Hội Luận Về Ðại Họa Trung Quốc  Ðô Hộ Việt Nam

12. Sinh Hoạt Các Nơi.

13. Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung.

 

Trang nhà:


http://www.lmdcvn.org
http://www.lmdcvn.net

Trang Nhắn

http://twitter.com/tudodanban

 

 

Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

Hoa Kỳ, tháng 7 năm 2009

Kính thưa quý Chiến hữu và quý Độc giả trong và ngoài nước,

Hàng năm vào dịp tháng 7, chúng ta thường nhớ nhiều hơn về Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Tùy theo hoàn cảnh và điều kiện bản thân, mỗi người chúng ta đều tưởng niệm Giáo sư Huy trong dịp Lễ Giỗ ngày 28 tháng 7 mỗi năm. Suốt 19 năm qua, chúng ta đã không quên hình ảnh Giáo sư Huy và rất nhiều người trong chúng ta vẫn kiên trì tiếp tục con đường do Giáo sư Huy đã vạch ra. Đó là tranh đấu cho một nước Việt Nam được tự do dân chủ và độc lập thực sự.

Bản thân chúng tôi có  may mắn từng hoạt động trong các đoàn thể  của Giáo sư Huy từ trong nước trước năm 1975 và sau này ra hải ngoại vẫn tiếp tục sát cánh bên nhau trong cấp lãnh đạo của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam (LMDCVN) cho đến khi Giáo sư Huy qua đời. Trong mấy thập niên đó được gần gũi với Ông, chúng tôi thấy Giáo sư Huy quả là một con người đặc biệt, có tài lẫn đức và được mọi người trong đoàn thể thực sự thương mến ngưỡng mộ. Điều này được chứng minh rõ rệt qua sự kiện Giáo sư Huy luôn luôn được mọi người trong đoàn thể tín nhiệm trong vai trò lãnh đạo và không hề xảy ra những tranh chấp quyền lực như chúng ta thường thấy.

Nhìn lại trọn cả  cuộc đời, Giáo sư Huy đã tận tụy phục vụ  cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam với những cống hiến hiếm có trải dài trên nhiều lãnh vực. Đặc biệt, về đóng góp vào công cuộc tranh đấu cho một nước Việt Nam được tự do dân chủ, Giáo sư Huy đã là người tiên phong đưa ra một chiến lược cụ thể bao gồm ba mũi nhọn. Trong đó lực lượng hải ngoại giữ vai trò yểm trợ phương tiện cho lực lượng quốc nội trực diện đấu tranh và bên cạnh đó vận động quốc tế làm áp lực tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc tranh đấu. Đến nay thì kế hoạch này được hầu hết các tổ chức chính trị chấp nhận và theo đuổi. Nhờ được yểm trợ của hải ngoại và can thiệp của quốc tế, những lực lượng quốc nội có phương tiện cũng như điều kiện thuận lợi hơn để càng ngày càng mạnh dạn lên tiếng chỉ trích chống đối chính sách độc tài bán nước của nhà cầm quyền CSVN.

Song song đó, Giáo sư  Huy đã nhìn thấy nhược điểm của phía các đoàn thể quốc gia là chưa đoàn kết được với nhau, nên đã đưa ra giải pháp kết hợp. Giáo sư Huy chủ trương các đoàn thể cần  đoàn kết và hợp tác làm việc chung với nhau, trong lúc vẫn giữ tính cách độc lập riêng, để tránh được nỗi lo sợ bị giải thể một cách vội vã hoặc phải đối đầu với những tham vọng bao trùm nhứt thống. Nhờ vậy, Giáo sư Huy đã thành công trong việc thuyết phục và kết hợp được 8 đoàn thể quốc gia cùng ngồi lại hợp tác làm việc với nhau. Tiếc thay, Giáo sư Huy đã qua đời quá sớm vào ngày 28 tháng 7 năm 1990, lúc mà tình thế Việt Nam đang sôi bỏng, cần một lãnh tụ tài đức được niềm tin tưởng của đồng bào để hướng dẫn cuộc tranh đấu đến thành công như các quốc gia Đông Âu đã đạt được.

Hiện nay, LMDCVN tiếp tục thực hiện chính sách do Giáo sư Huy đưa ra và từ  lâu đã nhận định rõ đại họa xâm lăng của Trung Cộng. Rút kinh nghiệm từ việc chế độ cộng sản Đông Âu bị sụp đổ qua sự  lung lay của Liên Sô, LMDCVN đã là một trong những đoàn thể Việt Nam đi tiên phong phát động chiến dịch vạch rõ tội ác của Trung Cộng hồi đầu tháng 2 năm ngoái để tẩy chay Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008. Ngày nay, Trung Cộng càng ngày càng bị dư luận thế giới chê trách và bị khủng hoảng với những chống đối đẫm máu ngay trong nội bộ. Tình trạng tương tự này đã từng xảy ra tại Liên Sô trước khi ĐCS tại đó bị sụp đổ.

Mặt khác, cơ quan ngôn luận chính thức của LMDCVN - Nguyệt San Tự Do Dân Bản Online - đặc biệt đặt trọng tâm phổ  biến qua internet đến mọi thành phần tại hải ngoại và quốc nội - kể cả Đảng CSVN - để vạch rõ chính sách bán nước cầu an của nhà cầm quyền Hà Nội khiến cho Trung Cộng dễ dàng thao túng xâm lấn nước ta. Uy tín Đảng CSVN chưa bao giờ xuống dốc như hiện nay. Ngay cả những thành phần từng lãnh đạo như cựu Tướng Võ Nguyên Giáp cũng lên tiếng phản đối và gián tiếp kết án chính sách bán nước của Hà Nội.

Ngoài ra, LMDCVN luôn luôn chủ trương kết hợp với mọi đoàn thể và  mọi thành phần Việt Nam yêu nước. Cụ thể nhứt là trong thời gian qua đã kết hợp làm việc chung thành công với nhau dưới mái nhà Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy qua những cuộc Họp Mặt và Hội Luận. LMDCVN tin tưởng rằng giải pháp tương tự như giải pháp Đại Gia Đình Nguyễn Ngọc Huy sẽ tạo được sự kết hợp, hóa giải được nạn phân hóa trong các chính đảng lớn.

Tất cả đều nằm trong tâm nguyện của Giáo sư Huy. Đó chính là đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên hết và hoạt động chính trị trên con đường vương đạo. Trong tinh thần đó, xin kính chúc quý Chiến hữu và quý Độc giả trong và ngoài nước được nhiều sức khỏe, an lành và luôn chân cứng đá mềm trên bước đường đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do, dân chủ và độc lập thực sự.

Kính chào đoàn kết,

Nguyễn Văn Thiện

Chủ Tịch UBCHTƯ LMDCVN


Sơn Hà  Nguy Biến

Lê  Minh Nguyên 19/6/2009 

Bóng chúng – Đè lên – Số  phận – Từng người (thơ Trần Dần)

Báo Viễn Đông Kinh Tế ngày 2/5/08 có bài “Bắc Kinh Theo Chủ Nghĩa Phát Xít Cổ Điển” nhận xét rằng bản chất của các chế độ Phát Xít là độc tài toàn diện về chính trị nhưng tương đối cho tự do kinh tế, và bành trướng chinh phục là DNA trong tế bào của chế độ. Các quốc gia dân chủ cần điều chỉnh lại quan niệm sai lầm là sự giàu có mang lại hòa bình. Bài báo cho rằng quyền lợi lâu dài của người dân Trung Quốc (TQ) là sự tự do chính trị dù đôi khi có rối rắm hay hỗn độn. TQ bành trướng chỉ là vấn đề thời gian, bước đầu tiên là các nước chư hầu triều cống và sáp nhập Đài Loan. Chế độ TQ ngày hôm nay là hậu duệ của hai cuộc cách mạng khác nhau (1) Mao là kinh nghiệm thất bại của chủ nghĩa cộng sản và (2) Đặng là sự hóa thân đi vào chủ nghĩa Phát Xít. Sách trắng Quốc Phòng năm 2008 của TQ xác nhận là cần tăng tốc việc tranh đấu cho tài nguyên chiến lược, cần tung lực lượng ra ngoài để hỗ trợ đòi hỏi biển, sử dụng chính sách ngoại giao với sự cưỡng bách quân sự. 

Theo báo Economist, ngân sách quốc phòng TQ năm 2008 là 85 tỷ đô la, đứng thứ nhì sau Hoa Kỳ. Với Project 048, TQ đang xây hàng không mẫu hạm ở đảo Changxinh cạnh Thượng Hải và sẽ có 2 chiếc hoạt động vào năm 2015. Lực lượng hải quân có khoảng 55 tàu ngầm, 70 khu trục hạm, 50 tàu đổ bộ và 40 tàu chiến ven bờ. TQ đã chế xong 2 trong 6 chiếc tàu ngầm nguyên tử lực tối tân, loại Jin-class (094) và trang bị hỏa tiển JL-2 có tầm xa 7,200km. Trên bộ, TQ trang bị hỏa tiễn nguyên tử di động DF-31 và DF-31A. TQ sắp sử dụng hàng không mẫu hạm NAe Sao Paulo của Brazil để thực tập bay/đáp theo kỹ thuật CATOBAR (phóng khi lên, dùng giây móc khi xuống). Còn Việt Nam (VN) vừa mua của Nga 6 tàu ngầm Kilo ($1.8 tỷ đô la) và 8 máy bay Su-30MK2 ($400 triệu đô la) không kèm vũ khí hay thiết bị kỹ thuật, khác nào chim ưng không móng (máy bay mới của Nga là Su-35), so ra khó thể làm cho TQ ngại ngùng khi tính toán chiến tranh. Cuối năm 2009, TQ sẽ thao diễn quân sự đại quy mô kéo dài 2 tháng có tên “Tiến Bước-2009”, sử dụng quân sĩ của 4 trong tổng số 7 quân đoàn với 50,000 quân thao tập, huy động 60,000 xe, sử dụng vũ khí nặng, điều kiện đánh trận thật, bắn đạn thật, di chuyển trường chinh với 50,000km đường, mỗi tiểu đơn vị di chuyển một tuyến đường dài hơn 2,400km, tiến quân cùng một lúc từ 4 đại bản doanh của 4 tỉnh Thẩm Dương, Lan Châu, Tế Nam và Quảng Châu. Việc thao diễn nhằm phối hợp lục và không quân để đạt 6 chỉ tiêu là kiện toàn chỉ huy, phối hợp binh chủng, sử dụng kỹ thuật điện-từ, tấn công, giao chiến, và sử dụng lực lượng đặc nhiệm (Jamestown.org 15/5 và 12/6/09). 

TQ đang trong chiều hướng chuẩn bị dư luận cho chiến tranh bành trướng xẩy ra trong tương lai. Trong tháng 3/09 vừa qua, quyển sách “Trung Quốc Bất Cao Hứng” bán chạy nhất ở TQ với số in 180,000 cuốn bán sạch (và in thêm với số bán hơn nửa triệu) của 5 tác giả Vương Tiểu Đông, Tống Hiểu Quân, Hoàng Kỉ Tô, Tống Cường và Lưu Ngưỡng đưa ra viễn kiến cho TQ trong 30 năm tới, cho rằng TQ phải có chí lớn, đã đến lúc TQ phải “thay Trời hành đạo”, lãnh đạo thế giới, phải cầm gươm kinh doanh, tận dụng tài nguyên thế giới, Giải Phóng Quân phải bám sát lợi ích nồng cốt của TQ trên thế giới (hoinhavanvietnam.vn 4/14/09). Đây là hình ảnh của anh thương gia tay xách túi tiền và trên vai có mang theo khẩu súng. 

TQ coi các quốc gia xung quanh là sợi dây chuyền trân châu đeo trên cổ  của họ, vòng đay chư hầu để TQ khai thác tài nguyên và làm phên dậu, từ Mông Cổ, Bắc Hàn, VN, Lào, Cam Bốt, Miến Điện, Bangladesh, Pakistan, Sri-Lanka. Họ đã bỏ ra $1 tỷ đô la để xây hải cảng Hambantota phía Đông Bắc Sri-Lanka, kiểm soát Ấn Độ Dương, thọc vào nách Ấn Độ, tạo quân cảng 2 bên vùng vịnh Bengal từ Sri Lanka qua Miến Điện (UPI Asia 13/5/09). Chuyên gia Nga về VN, tiến sĩ Vladimir Kolotov nhận xét rằng chiến lược dài hạn của TQ rất rõ ràng là kiểm soát vùng Đông Nam Á (ĐNÁ), ban đầu gián tiếp sau đó trực tiếp, và hàm ý TQ muốn lập chế độ bù nhìn ở VN. TQ hứa hẹn với VN hợp tác khai thác chung ở những vùng biển tranh chấp, nhưng theo ông, hợp tác khai thác là phải cùng đầu tư. Công ty dầu China National Offshore Corp. đã bỏ ra $30 tỷ đô la để khai thác quanh Trường Sa, VN có bỏ ra được $10 tỷ hay không? Ông nhận xét là trong lịch sử mỗi khi TQ mạnh, lần nào cũng là một vấn đề lớn cho VN (BBC 14/5/09 và 23/12/08). Tuần dương hạm Trịnh Hòa của TQ ghé cảng Đà Nẳng ngày 18/11/08 và Trung Tướng CSVN Vũ XuânVinh nói trong dịp này là “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Với tàu Trịnh Hòa, TQ gởi đến VN một tín hiệu của sự đe dọa, nhắc nhở cho VN rằng Trịnh Hòa (1371-1433) là Thủy Sư Đô Đốc thời nhà Minh cường thịnh và xăm lăng VN, đưa đến cuộc khởi nghĩa của anh hùng áo vải Lam Sơn (BBC 18/11/08).  

Hiện nay ở TQ, các tờ Đông Phương Nhật Báo, China Daily, website quân sự  chính trị Thiết Huyết ở Bắc Kinh đều có chủ trương muốn thôn tính VN bằng vũ lực trong một cuộc chiến tranh cục bộ để mở rộng không gian của mình (lý luận của Phát Xít Đức-Ý trước kia), vì VN là hòn đá cản đường sự phát triển của TQ, và tình hình hiện nay là cơ hội lịch sử, cần đánh nhanh. TQ đã giấu khả năng và chần chờ quá lâu, VN là nước mà TQ cần nên đánh trước. TQ cần gấp một chiến thắng để gởi tín hiệu cho thế giới về vị thế cường quốc của mình và khích lệ nhân dân TQ. Họ nói Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates ở hội nghị Đối Thoại Shangri-La, Singapore 31/5/09 đã bật đèn xanh cho TQ khi nói rằng Mỹ không có quan điểm gì về các tranh chấp chủ quyền tại biển Đông (BBC 2/6 và 11/6/09). Tâm lý này của TQ được phản ảnh qua việc họ đồng tình với Nga khi Nga chiếm 2 tỉnh South Ossetia và Abkhazia của Georgia, lập thành 2 nước thân Nga, trong khi thế giới chỉ lên tiếng suông chứ không có một hành động cụ thể nào để bảo vệ Georgia. Liệu rằng với sự hiện diện của TQ ở Tây Nguyên và các vùng có dân tộc thiểu số để khai thác quặng mỏ, có ai bảo đảm rằng TQ sẽ không làm như Nga ở Georgia? 

Chúng ta còn nhớ vào đầu tháng 8/08 và kéo dài đến tháng 9/08, mạng Sina.com cùng 3 mạng khác ở TQ đăng kế hoạch cùng bản đồ đánh chiếm VN trong 31 ngày với 310,000 quân hải lục tiến từ Vân Nam, Quảng Tây và Vịnh Bắc Bộ, dùng hỏa tiển tầm xa bắn phá 5 ngày đầu để làm tê liệt hóa khả năng truyền thông của VN. Theo GS Ngô Vĩnh Long ở Đại Học Maine, là có sự nhúng tay của Bắc Kinh, vì thường những thông tin chính quyền ngăn cấm không thể xuất hiện quá 3 ngày. GS Long cho rằng nếu VN lo sợ thì TQ lấn hơn, nếu mạnh mẽ thì TQ dè dặt. Các mạng này cho rằng VN là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với an ninh TQ, là trở ngại lớn nhất đối với sự trổi dậy của TQ, là đầu mối và trọng tâm chiến lược của toàn bộ khu vực ĐNÁ, muốn kiểm soát ĐNÁ cần chinh phục VN và VN là một cái xương khó nuốt (BBC 8/08). Chủ Tịch Quốc Hội Nhật, ông Tamisuke Watanuki khi viếng Hà Nội ngày 10/1/2002 đã nói với ông Nguyễn Văn An, Chủ Tịch Quốc Hội VN lúc bấy giờ là “mối đe dọa đang nằm ở kế bên” (Asia Times 1/2/06). 

Với chính sách cưỡng bách là mỗi gia đình chỉ có một con và văn hóa trọng nam khinh nữ, xã hội TQ hiện nay có khoảng 37 triệu trai thừa và sẽ tăng lên khoảng 40 triệu vào năm 2020 (english.peopledaily.com.cn 10/7/07 và Wikipedia). Tầng lớp này hiện đang bước dần vào hạng tuổi lãnh đạo ở các cấp chính quyền TQ. Nhiều nhà xã hội học lo lắng rằng thành phần này có tâm lý phiêu lưu, họ dễ đưa TQ vào con đường mạo hiểm và sẽ tạo bất ổn cho thế giới. Nhìn cách TQ cư xử trịch thượng đối với VN trong những năm gần đây thì dù thờ ơ đến đâu chúng ta cũng phải bắt đầu lo lắng. Mặc dù Bộ Chính Trị Đảng CSVN đã hết sức quỵ lụy, một lòng theo chủ trương “nhất biên đảo” (ngã hẳn về một bên thân TQ), nhưng VN càng khiếp nhược nhường nhịn thì TQ càng “được đằng chân lân đằng đầu,” càng gia tăng sự lấn áp để bành trướng. 

TQ là một quốc gia độc tài chính trị toàn diện và đang có tham vọng bá quyền. Trong chế độ độc tài, các lãnh tụ nếu muốn củng cố địa vị lãnh đạo của mình thường lúc nào cũng phải hát giọng cao như Đại Hán, ái quốc, bành trướng không gian sinh tồn, hùng mạnh, lấy Đài Loan, dạy cho VN một bài học, đánh Ấn Độ lấy tỉnh Arunachal Pradesh, chứng tỏ sức mạnh cường quốc của mình cho thế giới kính sợ v.v.. Nếu ai hát giọng thấp thì sẽ bị mất quyền lực ngay. Biến cố Thiên An Môn 1989 đã thể hiện rõ điều này khi những người lãnh đạo ôn hòa muốn thương thảo với sinh viên đều bị hạ bệ. TQ đang có nhu cầu đánh một trận lấy chiến thắng để thị uy cùng thế giới và họ đã chọn chiến trường đầu tiên là VN, vì nó hội đủ tất cả mọi điều kiện để TQ chiến thắng dễ dàng, nhanh chóng, thu được các mối lợi cao như biển Đông, tài nguyên, và mở được cửa ngõ chiến lược để bành trướng xuống vùng ĐNÁ. Do đó, vấn đề Đánh VN chỉ là vấn đề thời gian sớm hay muộn mà thôi. TQ đã gài được cái thế tương quan để VN đi từ một quốc gia có chủ quyền (trước 1991 với sự độc lập tương đối), đến sự liên hệ hợp tác song phương (sau khi thiết lập bang giao 1991 để dựa vào TQ vì Đông Âu và Liên Sô sụp đổ, để bắt đầu đi vào con đường chư hầu), rồi trói chặt VN bằng sự liên hệ hợp tác chiến lược toàn diện (sau 2008 và đi vào vòng nô lệ). TQ không đánh VN chỉ khi nào bất chiến tự nhiên thành, do VN chịu cam thân làm nô lệ. CSVN chấp nhận như vậy nhưng dân tộc VN có chịu tiếp tục bị đô hộ hay không? 

Việt Nam-Trung Quốc núi liền núi sông liền sông… Đất nước chung nghe tiếng gà gáy cùng (bài hát CSVN) – CSVN và chính sách quỵ lụy

TQ đã coi VN là chư  hầu và đang đưa VN vào tình trạng nô lệ, chủ tâm làm hao mòn để dân tộc VN bị tiểu nhược. Khi cư xử với các quốc gia ĐNÁ khác, TQ tôn trọng họ. Với VN, TQ hoàn toàn thiếu sự khoan nhượng và có tính cách thống trị. 

Từ tháng 2/1999 đến 12/2000, TQ ký với tất cả 10 quốc gia ĐNÁ các thỏa ước khung sườn cộng tác song phương, qua hình thức tuyên bố chung giữa các bộ trưởng ngoại giao hay phó thủ tướng, chỉ trừ VN là phải có thêm thỏa ước ký bởi 2 tổng bí thư. Khi ký với các quốc gia khác, TQ đều cho dựa vào các điều khoản luật quốc tế như Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và những hiệp ước quốc tế. Riêng VN, thỏa ước 1999 không dựa vào điều khoản luật quốc tế nào cả, thỏa ước năm 2000 thì chỉ dựa vào Hiến Chương LHQ và 5 nguyên tắc sống chung hòa bình. Trong việc thực hiện sự cộng tác giữa TQ và các quốc gia khác, TQ chỉ đòi hỏi tổng quát là trao đổi cấp cao. Riêng VN, thỏa ước 1999 đòi hỏi toàn diện cộng tác từ đảng, chính quyền, các tổ chức quần chúng, các địa phương. Đối với các quốc gia khác, TQ đòi hỏi họ hổ trợ TQ một cách chung chung mà thôi. Riêng VN thì hết sức là chi tiết và đòi hỏi VN tuyệt đối không bao giờ được phát triển quan hệ chính thức với Đài Loan. TQ cam kết tôn trọng sự độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ với 8 trong 10 quốc gia ĐNÁ, nhưng trừ VN và Brunei. TQ hứa tham khảo và cộng tác với các quốc gia ĐNÁ ở các diễn đàn quốc tế như LHQ, ASEAN, ASEAN+3, nhưng trừ VN. Về sông Cửu Long, TQ hứa với Lào, Miến Điện, Thái Lan, Cam Bốt là giúp họ phát triển vùng hạ lưu, nhưng trừ VN (Thayer 25/3/06). 

Trong khi CSVN bị TQ bức hiếp thì các quốc gia khác, dù nhỏ yếu hơn VN như Phi Luật Tân, đã can đảm chống lại TQ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Có thể nói vấn đề tranh chấp Trường Sa trong hai năm qua là vấn đề giữa TQ và Phi, chứ không phải giữa TQ với VN, bởi vì VN chấp nhận thua thiệt và im lặng. Ngày 9/7/07 TQ bắn chết ngư dân VN trong vùng Trường Sa, tàu hải quân BPS-500 của CSVN có mặt ở đó, nhưng chỉ đứng nhìn (BBC 20/7/07). Quy Ước Ứng Xử năm 2002 giữa TQ và các quốc gia Đông Nam Á chỉ là một văn bản có tính cách hứa hẹn không làm phức tạp vấn đề, nó không có tính cách ràng buộc, không có chế tài, không có hải hình rõ rệt vì TQ không chịu để Hoàng Sa vào, và không bao gồm tất cả các quốc gia tranh chấp vì không có Đài Loan tham dự. TQ đã coi nó như một tờ giấy lộn. Thỏa hiệp hợp tác địa chấn biển và thăm dò dầu khí chung trong vùng tranh chấp giữa TQ, Phi và VN năm 2005 có hiệu lực 3 năm, đã mãn hạn ngày 30/6/08 và không được gia hạn. Phi đã hủy bỏ năm 2007-08 vì cho rằng TQ bắt nạt, áp lực Quốc Hội Phi đòi thay đổi đường bờ biển căn bản. Đối lập Phi cho là vi hiến và tham nhũng. Phi còn thông qua luật ngày 17/2/09 coi các đảo là “regime islands” thuộc chủ quyền của Phi, mặc cho TQ phẫn nộ. Bà Tổng Thống Gloria Arroyo còn cố ý ký thành luật vào ngày tân đại sứ TQ trình ủy nhiệm thư 10/3/09, chỉ hai ngày sau biến cố tàu Impeccable bị TQ xách nhiễu ở 75 dặm cách đảo Hải Nam. Cố Vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Bộ Trưởng Quốc Phòng Phi đã phản ứng dữ dội về việc TQ đưa tàu Ngư Chính 311 vào vùng Trường Sa. TQ phải dịu giọng giải thích đó chỉ là những hoạt động thường lệ và ngày 24/3/09 hứa giải quyết ôn hòa. Với Mỹ và Phi, TQ chưa dám phản ứng bằng cách gởi tàu chiến hạng nặng. Mỹ tuy có ráo riết theo dõi căn cứ hải quân Tam Á của TQ ở Hải Nam (qua vụ máy bay thám thính EP-3 bị chiến đấu cơ TQ đụng  tháng 4/2001 và vụ tàu Impeccable) nhưng cho đến nay lập trường của Mỹ giới hạn vào sự thông thương tự do ở hải phận quốc tế, cách bờ 12 hải lý, và các công ty Mỹ không bị đe dọa khi khai thác hợp pháp trong các vùng đặc quyền kinh tế của phạm vi 200 hải lý hay xa hơn (Jamestown.org 30/4/09). 

Nhật Bản còn mãnh liệt hơn Phi trong việc tranh chấp biển đảo với TQ. Nhật đơn phương tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế từ lằn chính giữa của đảo Ryukyu và bờ biển TQ, chỉ có Nhật độc quyền khai thác và Nhật sẽ có hành động trừng phạt nếu TQ vi phạm. Nhật còn đe dọa TQ không được khai thác gần đường ranh vì có thể rút dầu từ bên phía Nhật ở dưới mặt đất. TQ tuy viện dẫn thềm lục địa của họ kéo dài tới trũng Okinawa, nằm sâu bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Nhật, nhưng TQ không dám có hành động gì. Luật biển Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982 về vùng đặc quyền kinh tế thì mơ hồ, trước kia theo thềm lục địa nhưng sau này thì thiên về đường chính giữa, như phán quyết trong vụ tranh chấp Libya-Malta, ngoài ra còn đi theo tỷ lệ của bờ biển. Trong vụ tranh chấp  Úc-Nam Dương (East Timor) thì thềm lục địa của Úc chạy đến trũng Timor, có lợi cho Úc. Nhưng sau khi Timor độc lập năm 2002, Timor đòi đường chính giữa và Úc đã tương nhượng, đồng ý là phần giữa trũng và đường chính giữa Timor được chia lợi nhuận trong sự khai thác. Trong việc tranh chấp giữa Nhật-Nam Hàn, hai bên đồng ý là có sự bất đồng và đợi đến năm 2028 sẽ giải quyết, trong hiện tại hai bên khai thác chung phần nằm giữa trũng và đường chính giữa. Cũng như TQ, thềm lục địa Nam Hàn chạy đến trũng  Okinawa. Hiện giờ lằn ở giữa được LHQ chiếu cố và phương pháp giải quyết tranh chấp thường dùng là “thỏa thuận tạm thời và thực tiển”. TQ muốn như vậy đối với Nhật nhưng Nhật cương quyết từ chối và TQ không làm gì được. Ngay cả vùng đảo Senkaku (TQ gọi là Diaoyu), TQ và Đài Loan có thế mạnh về lịch sử và thềm lục địa, nhưng Nhật đòi cả 220 hải lý vùng đặc quyền kinh tế tính từ hòn đá phía Đông của Nhật mà họ gọi là đảo Okinotori, vi phạm Điều 212(3) của UNCLOS (Asia Times 1/2/06).  

Nhật là một quốc gia đã từng chiếm đóng TQ và là một cường quốc cho nên TQ không dám hiếp đáp. Do đó TQ dòm ngó ĐNÁ, nhất là VN là nơi mà TQ dễ bắt nạt. TQ với bản đồ chữ U nộp Liên Hiệp quốc (LHQ) chiếm 80% biển Đông, đòi 350 hải lý thay vì 200 như quy ước, diện tích đòi là 3 triệu km², trong khi theo quy ước chỉ là 270 ngàn km² (Strait Times 19/5/09). TQ dùng vũ lực chiếm 7 đảo ở Trường Sa và khoảng 100 giếng khoan dầu mà TQ nói là nằm trong vùng biển của họ với trử lượng 22.5 tỷ tấn dầu trong tổng số khoảng 35 tỷ tấn. Trường Sa còn là một vị trí chiến lược quan trọng, TQ có 21 trong tổng số 39 đường hàng hải đi qua vùng Trường Sa. Trường Sa nằm ngay trung điểm của chữ S để tiến Đông qua Thái Bình Dương và tiến Tây qua Ấn Độ Dương và TQ coi Trường Sa là lưỡi gươm bén của họ (John Chan, WSWS.org). 

Vì đặt quyền lợi đảng và quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi dân tộc, CSVN đã hoàn toàn lệ thuộc TQ để duy trì độc quyền lãnh đạo. Biết được nhược điểm này, TQ đã biến họ thành những quan thái thú dễ sai của thời kỳ đô hộ mới. Do đó trong sự liên hệ giữa VN và TQ, CSVN đi từ quỵ lụy này đến quỵ lụy khác. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi các quốc gia Âu Châu theo chính sách quỵ lụy Phát Xít thì chỉ giúp cho Phát Xít bành trướng thêm lên và kết quả chỉ là thảm họa. Với chủ trương 16 vàng 4 tốt “Láng giềng hữu nghị - Hợp tác toàn diện - Ổn định lâu dài - Hướng tới tương lai” và “Láng giềng tốt - Bạn bè tốt - Đồng chí tốt - Đối tác tốt”, con thuyền VN đã bị CSVN buộc chặc vào con thuyền khổng lồ của TQ. Các câu này rõ ràng là để áp dụng cho VN chứ không phải TQ, nói một cách giản dị là “vì ở cạnh TQ nên phải cư xử thân thiện với TQ, hoàn toàn vâng theo lời TQ, có như vậy TQ mới cho được yên ổn cầm quyền lâu dài, và TQ đi hướng nào thì VN phải đi theo hướng đó”, và “đã ở bên cạnh TQ thì phải làm đàn em ngoan ngoãn, làm đảng viên trung thành, làm nơi cho TQ bán hàng và khai thác tài nguyên”, luôn làm “tốt” để phục vụ quyền lợi TQ. 

Láng giềng tốt : TQ dọn mìn ở vùng biên giới và vùng đèo Hữu Nghị 3 lần, lần thứ I từ 1992-94, lần thứ II từ 1997-99 được coi là lần dọn mìn lớn nhất lịch sử thế giới, và lần thứ III từ 2005. TQ cho biết hàng ngàn mẫu trà đã được trồng năm 1999. Câu hỏi được đặt ra là mìn đó do ai đặt? và đặt trên đất của ai? Bây giờ có hàng ngàn mẫu trà là đất của TQ (VOA 31/12/08). TQ mang 200,000 quân đánh VN năm 1979, họ chiếm vùng biên giới nước ta, và VN ở thế tự vệ thì làm sao mà VN có thể đặt mìn trên đất TQ được? Chỉ có thể là TQ trước khi rút quân họ đã đặt mìn trên đất VN để phục vụ 2 mục đích: VN không thể đánh bọc hậu, và vùng đất này không ai có thể sử dụng được cho đến khi mìn được tháo gỡ. Có lẽ chính vì bị mất đất quá nhiều cho nên CSVN, qua ông TS Nguyễn Hồng Thao của Ban Biên Giới Chính Phủ VN, đã tìm cách thối thoát không đưa ra bản đồ, viện dẫn rằng có hơn 2000 cột móc (theo DPA của Đức, tất cả là 2,333 cột móc) cũng là hơn 2000 biên bản nên cần có thời gian và phải mất ít nhất 1 năm nữa (BBC 2/1/09). Chúng ta, ai cũng biết rằng với kỹ thuật vệ tinh và GPS ngày nay, chỉ cần mang cell phone có GPS đến cột móc là vị trí này chính xác xuất hiện trên bản đồ. CSVN đã dối gạt dân để mua thời gian và tạo quên lãng trong việc nhường lãnh thổ. 
 

Trong hơn 3 năm vừa qua, vào mùa đánh cá của ngư dân VN, TQ ra lệnh cấm 2 tháng và năm nay tăng lên 2 tháng rưỡi từ 16/5/09 đến 1/8/09 lấy lý do là để bảo vệ môi trường, mà theo GS Nguyễn Mạnh Hùng nhận xét, là TQ chiếm từ từ bằng cách tạo tiền lệ, sau một thời gian tiền lệ sẽ trở thành tập tục quốc tế, và sau đó nữa là hoàn toàn của họ, lấy một cách êm thắm, chính quyền CSVN thì lặng thinh và thế giới không ai phản đối. Theo GS Hùng, nếu VN không giữ chặt, kể cả tử chiến, những gì mình còn chưa mất, thì TQ sẽ tiếp tục lấy nữa, và điều kiện tiên quyết là lãnh đạo VN phải nhất trí, coi nguy cơ bá quyền của TQ là nguy cơ lớn nhất, trên cả 4 đại nguy cơ mà CSVN nêu trong đại hội của họ là tục hậu, chệch hướng, tham nhũng, và diễn tiến hòa bình (RFA 1/6/09). Nhưng điều này khó thể xảy ra với thành phần lãnh đạo hiện tại. Lệnh cấm của TQ từ Cam Ranh trở lên bao phủ một vùng rộng lớn 128,000km² vào mùa biển lặng gió yên đã làm thiệt hại 60% tổng số cá sản xuất hàng năm của ngư dân (BBC 9/6/09). Trả lời yêu cầu của ông Thứ Trưởng Ngoại Giao VN Hồ Xuân Sơn đến ông Đại Sứ TQ Tôn Quốc Tường, ông phát ngôn nhân Tần Cương của TQ cho biết lệnh cấm đánh cá là cần thiết, là biện pháp thông thường và đứng đắn trong vùng lãnh thổ của họ. Báo chí và dư luận ở TQ còn cho là họ làm như vậy và tăng lệnh cấm từ 2 tháng lên 2 tháng rưỡi là để thăm dò ý chí của VN, vì VN đã có hành động khiêu khích như lập quận Hoàng Sa, họ cần cảnh báo để VN không đi quá xa, nếu VN có hành động gì thì TQ sẽ ra tay mà không bị mang tiếng là bắt nạt, và “vũ lực đằng sau lời lẽ là điều cần thiết”. 
 

Bạn bè  tốt: Tháng 12/2005 TQ đe dọa công ty dầu Ấn Độ ONGC trong việc hợp tác khai thác với VN ở biển Đông. TQ cũng đe dọa như vậy với công ty BP của Anh tháng 4/07 khiến BP phải bỏ, và Exxon-Mobil của Mỹ tháng 7/2008. TQ thao diễn quân sự ở TS một tuần từ 16/11/07 và mở tour du lịch cho dân TQ. Ngày 2/12/07 Quốc Vụ Viện TQ phê chuẩn thành lập huyện Tam Sa để bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa. Khi VN tổ chức hội nghị APEC tháng 11/06, TQ cảnh cáo là không được mời Đài Loan tham dự. Trong công tác nhân đạo, tàu bệnh viện USS Peleliu của HK đến cảng Đà Nẳng giữa tháng 7/07 nhưng CSVN không cho lên bờ và không cho dùng trực thăng để di chuyển bệnh nhân vì sợ TQ phật lòng. Cuối tháng 7/07 ông Du Tích Khôn, chủ tịch đảng Dân Tiến Đài Loan (DPP) đã được CSVN cấp visa để viếng thăm VN đầu tháng 8/07 nhưng TQ áp lực và CSVN hủy bỏ. DPP coi đó là “một hành động lăng mạ phỉ báng” và “hết sức bất nhã” của CSVN. Đại sứ CSVN ở TQ, ông Trần Văn Luật, cuối tháng 8/07 đã bị TQ gọi đến để huấn thị là báo chí VN phải ngưng đăng những tin tức về sản phẩm TQ thiếu chất lượng mà báo chí trên thế giới đang ồn ào loan tin, nếu không thì hàng hóa VN gặp vấn đề tại biên giới. TQ không làm như vậy với đại sứ của các quốc gia Tây Phương trong khi báo chí tây phương ồn ào nhất về việc này. CSVN đã đồng ý cho ông Thứ Trưởng Ngoại Giao HK John Negroponte công du VN trong chuyến đi giữa tháng 9/08 nhưng lại hủy bỏ vào giờ phút chót với lý do là thời tiết xấu. Ông Carlyle Thayer tiết lộ là các quan chức VN cho ông biết do TQ áp lực, đe dọa sẽ hủy bỏ chuyến đi TQ của ông Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm (BBC 16/8/07 và 29/9/08). Qua các sự kiện này thì ta thấy ai tốt với ai? 
 

Bộ Chỉ Huy Giám Sát Hàng Hải của TQ nói rằng đối với các hải đảo và biển, TQ phải kiểm soát và quản lý thay vì cứ nói chứng cớ lịch sử. Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Đại Học Quốc Phòng TQ cho rằng TQ phải kiểm soát thường xuyên và lâu dài vì ngoài nguồn cá còn phải chứng tỏ chủ quyền tối cao. Trong khi đó CSVN cứ nhai đi lập lại một cách sáo rỗng về chứng cớ lịch sử và cơ sở pháp lý mà không có một hành động cụ thể nào cả, kể cả vấn đề tương đối dễ dàng như đưa ra Liên Hiệp Quốc để đánh động dư luận quốc tế (South China Morning Post 16/4/09). 
 

Về sông Cửu Long, nó là bộ phận cốt lõi trong chu kỳ sinh động của quả địa cầu, sứ mệnh thiêng liêng của nó là bào mòn, chuyển tải và bồi đắp, mang vật chất từ nơi cao để đem về nơi thấp. Tất cả những công trình thủy đập, dù có cao kiến cách mấy cũng làm cho nó mất thăng bằng, làm xáo trộn sự tuần hoàn của quả đất, đóng góp vào sự tuyệt chủng của các sinh vật. Trong lịch sử của quả địa cầu, đã có ít nhất 5 lần đại tuyệt chủng do môi trường biến đổi, và hiện nay có khoảng 400 sinh vật bị tuyệt chủng mỗi ngày (Inquiry into Life, Mader, 12th Ed.). Sự mất thăng bằng trầm trọng của sông Cửu Long sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại của các sinh vật sống ở vùng hạ lưu sông này, nhất là cư dân. Chỉ riêng ở Vân Nam, TQ đã xây 14 đập lớn, dung lượng của một đập Tiểu Loan đã bằng tất cả các hồ chứa ở ĐNÁ cộng lại. GS Ngô Đình Tuấn, Chủ Tịch Hội Đồng Khoa Học Viện Nghiên Cứu Nước và Môi Trường ĐNÁ nói rằng TQ đang “bức tử” sông Cửu Long. TQ còn lấy nước sông Cửu Long đưa về Trường Giang để bù vào việc họ lấy nước Trường Giang đưa lên mạn Bắc qua việc xây đập Hoàng Hà. Dòng sông đi qua 6 nước, trên nguyên tắc nó là con sông quốc tế và mọi việc phát triển nếu có, phải do cả 6 nước tham dự và quyết định, nhưng TQ không công nhận điều này và tự tiện coi nó là con sông quốc gia, khai thác bất cần hậu quả cho những quốc gia ở hạ nguồn. VN tất nhiên là hứng chịu những hậu quả nặng nề nhất vì là nước ở phía cuối dòng sông (BBC 3/6/09).

Đồng chí tốt: Trong chuyến viếng thăm ngày 13/6/09 ở Hà Nội, ông Lý Nguyên Triều, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Ban Bí Thư, và Trưởng Ban Tổ Chức Đảng Cộng Sản TQ đã ký thỏa thuận với ông Nông Đức Mạnh để đào tạo cán bộ cho VN giai đọan 2009-2015. Trong hệ thống đảng CS, ai cũng biết người Trưởng Ban Tổ Chức Đảng là người đầy uy quyền trong vấn đề sắp xếp nhân sự. Một ông Trưởng Ban Tổ Chức Đảng CS TQ đến VN và CSVN cam kết để họ đào tạo nhân sự cho cán bộ đảng mình trong 6 năm tới, cho họ cái quyền đào tạo và sắp đặt nhân sự lâu dài, cho ta thấy rõ sự lệ thuộc của đảng CSVN vào đảng CSTQ lớn như thế nào. Trong khi đó thì ông Mạnh hết lời ca ngợi quan hệ 2 bên được nâng lên “tầm cao mới”  và  hứa sẽ “làm hết sức mình” (BBC 13/6/09). Đây là “tầm cao” Bắc thuộc của quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện mà CSVN vừa nâng cấp năm 2008. 

Bà Bảy Vân, vợ ông Lê Duẫn, trả lời phỏng vấn của ông Xuân Hồng đài BBC vào tháng 8/08 nói rằng “TQ lấy cái thế là trước kia ông Phạm Văn Đồng có ký một văn bản cho phép TQ quản lý ở Hoàng Sa vì ‘ngụy‘ đã đóng ở đó”. Đại biểu quốc hội CSVN, ông Dương Trung Quốc, hôm 28/5/09 phát biểu trước diễn đàn quốc hội rằng “bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài”. Ông nói tuy ngoại giao, quốc phòng quan trọng, nhưng quan trọng hơn hết là lòng yêu nuớc và tinh thần quyết tử của người dân cho sự quyết sinh của tổ quốc. TQ đã mặc nhiên coi Hoàng Sa và vùng biển chung quanh là của họ và chỉ trích VN tiền hậu bất nhất, đã nhường Hoàng Sa cho TQ trước đây sao bây giờ lại đòi. Ông Tần Cương đã nói nhiều lần “VN phản đối là thiếu cơ sở, vì là hoạt động bình thường trong vòng lãnh hải TQ. Tây Sa (Hoàng Sa) và vùng nước kế cận là chủ quyền của TQ không thể chối cải, và tranh chấp về vùng này giữa TQ và VN là hoàn toàn không có,” “VN có những tuyên bố khác nhau trong những thời điểm lịch sử khác nhau” (BBC 27/11/07 và 9/12/08). 

Đối tác tốt : Tháng 4/09 ông Thủ Tướng Dũng đi Hải Nam, Quảng Đông hết lòng ca ngợi TQ, hết lòng đề cao việc thực hiện 2 đại lộ 1 vành đai, trả lời tờ Đại Công Báo ở Hong Kong rằng phát triển quan hệ với TQ là “chủ trương nhất quán và ưu tiên hàng đầu” của chính sách đối ngoại VN, nói rằng “năm 2008 nâng quan hệ song phương lên quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện”. Trong khi đó thì thống kê của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội VN cho biết có 75,000 lao động nước ngoài làm việc ở VN (con số thực sự có lẽ cao hơn nhiều) và trong đó hơn 37% là bất hợp pháp, chủ yếu là người TQ. Trong khi đó thất nghiệp tại VN gia tăng mà theo TS Nguyễn Quang A của viện nghiên cứu IDS ở Hà Nội, nó tạo ra một vấn đề xã hội nghiêm trọng vì có những việc trong khả năng mà người VN không được làm. Để xoa dịu sự bất mãn của dân chúng, tháng 4/09 ông Dũng yêu cầu Bộ Lao Động cứu xét và ngày 25/5/09  bà Bộ Trưởng Bộ LĐ Nguyễn Thị Kim Ngân nói Bộ LĐ không có trách nhiệm, đổ lỗi là do các chính quyền địa phương rồi…đứt đuôi ở đó. Ký giả David Pilling, báo Financial Times, nhận xét rằng bauxit là món quà triều cống của CSVN cho TQ và VN là nước bị TQ ép nhiều nhất. Triều cống bằng tài nguyên thiên nhiên và công ăn việc làm của dân chúng là những cống phẩm mới của thời đại. Do đó chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi ông Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng cả vú lấp miệng em trong Quốc Hội ngày 12/6/09 là ý kiến “ngày càng đồng thuận”, “chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà Nước” và ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng nói nên tránh “ảnh hưởng xấu đến quan hệ ngoại giao”. Trong khi CSVN quỵ lụy TQ thì lòng ái quốc của mọi tầng lớp quần chúng đã vượt qua sự sợ hãi. Đông đảo các khoa học gia và trí thức đã cất cao tiếng nói của mình như các ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng. Dù sống trong chế độ độc tài toàn diện, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ đã can đảm kiện thủ tướng VN ngày 11/6/09. Các cựu tướng Võ Nguyên Giáp, Đồng Sỹ Nguyên, đương kim thiếu tướng công an Lê Văn Cương đã mạnh mẽ lên tiếng bảo vệ Tây Nguyên (RFA 5/6/09, BBC 28/5 và 14/6/09). 

Giữa tháng 5/09 người VN ngỡ ngàng về mạng vietnamchina.gov.vn của chính quyền VN, mà luật về Internet của thế giới quy định cái đuôi gov.vn là của chính quyền VN, do chính quyền VN độc quyền chủ quản, vì nó tiêu biểu cho độc lập, chủ quyền và sự quản lý đất nước. Cái máy computer chủ phải đặt ở trong nước, nhưng trang mạng này lại có máy chủ đặt ở TQ, muốn thay đổi gì, VN phải sử dụng công hàm ngoại giao để xin phép, và nội dung lại tuyên truyền cho sự bành trướng biển Đông của TQ, như ông Tần Cương tuyên bố chủ quyền không thể chối cãi của TQ ở Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa). Mạng này đã được chính lãnh đạo chóp bu 2 nước là các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Hồ Cẩm Đào, Trương Đình Tuyển, Bạc Hy Lai khai trương ở Hà Nội ngày 16/11/06. Chính quyền CSVN đã vi phạm luật Internet quốc tế và Điều 88 Bộ Luật Hình Sự CSVN về tội “Tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chũ Nghĩa Việt Nam”. Công An thay vì bắt họ lại cố ý bắt lầm LS Lê Công Định, một người đã nhiệt tình bảo vệ VN, họ tìm cách lái sự quan tâm của quần chúng vào vấn đề nhân quyền, vì nó ít nguy hiểm cho chế độ hơn là vấn đề bảo vệ quyền lợi quốc gia dân tộc. 

Rừng Núi Dang Tay Nối Lại Biển Xa (nhạc Trịnh Công Sơn)

Tây Nguyên và Hoàng Sa-Trường Sa đang dang tay réo gọi dân tộc Việt Nam ra sức giữ gìn nối lại. Đây là một thách thức lớn lao của thế kỷ khi dân tộc đang ở trong hai gọng kềm của TQ và thái thú VN. Đó là chưa nói đến các cường quốc khác sẵn sàng thủ lợi, thương lượng trên đầu dân tộc VN. 

Sau ngoại giao bóng bàn tháng 4/1971, Hoa Kỳ và TQ trở nên thân thiện hơn để chống Liên Sô, tạo điều kiện cho HK rút quân trong những năm sau đó qua chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh”. HK đã trả ơn này cho TQ bằng cách để hải quân HK đứng nhìn TQ đánh chiếm Hoàng Sa từ tay VN Cộng Hòa tháng 1/1974. Sau khi ông Đặng Tiểu Bình viếng HK vào tháng 1/1979 thì tháng 2/79 TQ mang 200,000 quân đánh VN. Chuyên gia Nga Sergei Blagov nói với BBC (14/5/09) nhân vụ Nga bán 6 tàu ngầm cho VN là Nga coi trọng quan hệ chính trị, kinh tế, quân sự với TQ hơn VN. HK đang thiếu nợ TQ tính đến tháng 4/09 là 763.5 tỷ đô la thì làm sao HK có thể bênh vực VN được nếu TQ tấn công? TQ chỉ cần đòi nợ là kinh tế HK sẽ bị hắt hơi (treas.gov/tic/mfh.txt). Nhiều người hy vọng tàu khảo sát hải dương USNS Bruce Heezen, ngày 11/6/09 bắt đầu hoạt động ở vùng biển VN để tìm kiếm quân nhân HK mất tích trong chiến tranh là một lý cớ để hải quân HK giúp VN bảo vệ biển Đông. Nhưng ông Đại Sứ HK ở VN, Michael Michalak, trả lời phỏng vấn (VOA 15/6/09) cho biết hoàn toàn là một vấn đề nhân đạo, đã được bàn thảo 3, 4 năm trước đây và đây là lần thứ hai chứ không phải lần đầu. 

Điều này cho ta thấy là vấn đề an nguy của VN phải do chính người VN hy sinh bảo vệ. Ngày xưa ông cha ta chỉ dựa vào sức mạnh của toàn dân để đánh Tàu giành độc lập. Trong khi ở Cao Miên các lãnh đạo của họ tranh ngôi, cầu viện Xiêm La và VN, mỗi lần như vậy là một vài tỉnh của Miên bị mất. Sức mạnh quần chúng đã được chứng tỏ một cách rõ rệt qua sự thành công của các cuộc cách mạng màu (ôn hòa) ở nhiều nơi trên thế giới. Đó là điều mà CSVN ngày nay vô cùng lo sợ, bởi vì nếu lòng bảo vệ Tây Nguyên và biển-đảo của dân chúng được CSVN coi là “âm mưu diễn tiến hòa bình” và sự mãi quốc cầu vinh lại đuợc ông Nguyễn Minh Triết nói là “chính nghĩa sáng ngời” (BBC18/6/09), thì một ngày không xa, khi ý chí của quần chúng đã vươn lên thì không ai có thể ngăn cản được. 

TQ đã dùng vũ lực  để cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng Hòa, do đó nó hoàn toàn bất hợp pháp trên bình diện công pháp quốc tế, cho nên nếu chế độ VNCH còn tồn tại thì Hoàng Sa vẫn là của VN. Ngày xưa ông Phạm Văn Đồng bán cái mà CSVN không có, tựa như một người anh tham lam dùng bạo lực để chiếm nhà em mình, xúi kẻ hàng xóm lấy ruộng của người em và nói là mình cho. Nếu người em không bị người anh cướp mất nhà thì việc cho ruộng này sẽ vô giá trị. Nhưng người anh đã lấy nhà người em làm của mình rồi thì không thể nói ngang với kẻ hàng xóm có võ Thiếu Lâm được. Chỉ khi nào người em lấy lại được nhà mới có chính đáng tính để nói chuyện phải trái với kẻ chiếm đoạt, với sự hổ trợ của rất nhiều hàng xóm khác. Dù cho chưa lấy lại được nhưng cộng đồng vẫn công nhận ruộng đó là của người em, và khi kẻ chiếm đoạt bị suy yếu thì người em sẽ có cơ hội để thu về. 

Một chế độ không có chính đáng tính để đòi lại Hoàng Sa, không có khả năng để bảo vệ Trường Sa, dâng Tây Nguyên làm cống phẩm, hết lòng quỵ lụy TQ nhưng vẫn bị TQ khinh khi, thì chỉ là chế độ Lê Chiêu Thống tân thời. Nếu chế độ Đệ I và Đệ II Việt Nam Cộng Hòa có đầy đủ chính đáng tính trên các vùng lãnh thổ này của VN, thì dân tộc VN cần một chế độ Đệ III Việt Nam Cộng Hòa để tiếp nối, một chế độ thực sự tự do dân chủ, thống nhất và hội nhập dân tộc. Nếu toàn dân cương quyết đứng lên đòi lại quyền lãnh đạo đất nước thì nền Đệ III Cộng Hòa này sẽ thực hiện được. Nó đã xảy ra ở cạnh VN như Phi Luật Tân, Nam Dương, ở Đông Âu và sẽ xảy ra ở những quốc gia độc tài khác. Lòng dân và ý đảng đã quá khác biệt, vì lòng dân muốn xả thân cứu nước còn ý đảng thì bán nước nuôi thân. Thế mạnh của một chế độ là nội lực của toàn dân và chính đáng tính trong vấn đề lãnh thổ và lãnh hải. Hiện nay nước VN không có lực vì người dân không có quyền. Một chế độ có đầy đủ dân quyền, do nội lực của toàn dân mà ra, hoàn toàn mới và nối tiếp nối nền dân chủ đa nguyên đã có từ 2 chế độ Cộng Hòa trước đây sẽ có đầy đủ chính đáng tính để bảo vệ VN – một nền Đệ III Cộng Hòa. Vì vậy dân tộc VN hãy cùng nhau đứng dậy mà đi, nếu tất cả “bàn tay ta nắm” sẽ “nối tròn một vòng Việt Nam”. 

Ngoài Đông Hải  đâm thuyền dân đánh cá

Trên đất liền xây  đá chận Cửu Long

Ngày Xưa Mã Viện Trụ Đồng

Ngày nay Thập Ngũ một lòng Bắc Phương

Nhưng :

Dân ta cương quyết chẳng nhường

Bắc Phương ta đuổi về đường Bắc Phương

(Thập Ngũ là  15 ủy viên trong Bộ Chính Trị đảng CSVN) 


Nhớ  về

Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy

Nhớ lại lúc  đi học trường trung học Ngô Quyền tại xứ bưởi Biên Hòa. Thời kỳ đó xuất hiện hàng loạt thi đoàn với những thi sĩ "vang bóng một thời" như Hà Thu Thủy, Đinh Thiên Phương .... Tuy nhiên, được biết nhiều nhứt trong giới thi sĩ xứ Bưởi từ trước đến nay dĩ nhiên vẫn là nhà thơ học trò Nguyễn Tất Nhiên với "Cô Bắc kỳ nho nhỏ": 

Đôi mắt tròn, đen, như búp bế 

Cô  đã nhìn anh rất ... Bắc kỳ 

Anh vái trời cho cô dễ dạy 

Để anh đừng uổng mớ tình si

. . . . . .

Nắng bờ sông như màu trang vở cũ

Thuở  học trò em làm khổ  ai chưa

. . . . . .

Chiều xưa có ngọn trúc đào

Mùa thu lá rụng bay vào sân em

. . . . . .

Thà  như giọt mưa 

Khô  trên tượng đá 

Có  còn hơn không  

Nhìn lại xứ bưởi Biên Hòa coi vậy chớ có khá nhiều nhà  thơ nổi tiếng. Phải chăng vì địa linh dưới có giòng sông Đồng Nai ngọt ngào trên có núi Bửu Long linh thiêng đã hun đúc ra những tâm hồn văn thơ. Nhưng khách quan mà nói, Đằng Phương (1924 -1990) là thi sĩ đầu tiên của xứ Bưởi đi vào văn học sử với những bài thơ ái quốc nổi tiếng được giảng dạy trong học đường như bài thơ "Anh hùng vô danh": 

Họ  là những anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh

Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh

Nhưng can đảm và tận tình giúp nước  
 

hoặc bài thơ "Ngày tang Yên Bái": 
 

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!

Trong bình minh sương lạnh phủ âm thầm

Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt

Toan lay tỉnh cả toàn dân nước Việt 
 

và nhiều bài thơ  quen thuộc hùng tráng tương tự như: Ngọn đuốc Việt Nam, Quyết sống, Lời sông núi, Anh hùng đất Việt, Lẽ sống, Thanh niên Việt Nam, Việt Nam thống nhất, Nước Việt trường tồn, Giã bạn lên đường ...

Toàn bộ cuộc  đời của nhà thơ Đằng Phương khá ly kỳ. Năm 17 tuổi đã sáng tác được những bài thơ  nổi tiếng nêu trên. Đến lứa tuổi đôi mươi xuất bản tập thơ ái quốc đầu tiên mang tên Hồn Việt (nxb Đuốc Việt 1950). Vì lúc đó dưới thời thực dân Pháp nên phải giấu danh tánh thực của tác giả. Sau đó đặc biệt cả hai miền Nam Bắc đều giảng dạy những dòng thơ ái quốc đó trong học đường, mà ai cũng tưởng là tác giả vô danh. Mãi đến lúc tròn 60 tuổi, tác giả cho tái bản tập thơ Hồn Việt (nxb Thanh Phương Paris 1984) và "xuất đầu lộ diện ". Không ai ngờ nổi, thi sĩ Đằng Phương lại là một nhân vật quen thuộc và nổi tiếng của miền Nam về hoạt động văn hóa, giáo dục, báo chí và ... quốc sự. Ông cũng là dân xứ Bưởi quê ở Tân Uyên với tên tuổi nổi tiếng: Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.

Thuở còn nhỏ, tôi  đã được nghe nhiều về Giáo sư Huy và  biết từng du học trở về từ Pháp, nhưng lại sống rất bình dị đạp xe đạp tới Đại Học dạy học. Còn nhớ, lần đầu tiên gặp được Giáo sư Huy vào "mùa hè đỏ lửa” 1972, trong dịp qua Paris tham dự hòa đàm và cuối tuần đến nói chuyện với giới kiều bào tại Âu Châu. Mãi đến một thập niên sau mới gặp lại vẫn thấy Giáo sư Huy sống “tri hành hợp nhứt” đúng theo những dòng thơ ái quốc sáng tác từ thuở đôi mươi. Năm 1984 chính thức tái bản thơ Hồn Việt tại Paris làm nổi bật thêm con người đa tài này.

Vào năm 1990, trên bước đường hoạt động tại Âu Châu, Giáo sư Huy đã kiệt sức vì căn bịnh ung thư qua đời váo ngày 28 tháng 7 -hưởng thọ 66 tuổi- để lại thương tiếc cho biết bao nhiêu người từng yêu thơ và từng ngưỡng mộ con người tài đức vẹn toàn hiếm có này .  

I . Một hiện tượng hiếm có   

Từ đó, cứ đến độ giữa hè vào dịp cuối tháng bảy, ở quốc nội và tại hải ngoại, âm thầm hoặc công khai đều có Lễ Tưởng Niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Như vậy tính đến nay đã tròn đúng 19 năm rồi. Một thời gian quá dài để thử thách mức độ thực lòng thương nhớ của quần chúng đến một nhà lãnh đạo đã nằm xuống. Sự ra đi vĩnh viễn của Giáo Sư Huy vào ngày 28 tháng 7 năm 1990 xảy ra đúng vào lúc thế lực cộng sản đang trên đà gục ngã tại Đông Âu. Bây giờ 19 năm sau nhìn lại toàn bộ, thấy tiếc nuối chúng ta đã mất một cơ hội hiếm có trong đời để xoay chuyển dân chủ hóa cho VN. Rõ ràng lúc đó không có yếu tố cấp lãnh đạo uy tín và sáng suốt với tầm vóc như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy nên không đưa ra được kế hoạch hữu hiệu nào cả và để rồi tình thế thuận lợi vuột mất đi.

Nhớ lại, vào  đầu thập niên 80, giới trẻ chúng tôi với lứa tuổi đôi mươi, vừa mới ra trại tỵ nạn hoặc vừa tốt nghiệp đại học ra trong lòng còn đầy nhiệt huyết -  gặp gỡ Giáo Sư Huy và trực giác biết ngay đó là một con người tài đức vẹn toàn dám hy sinh trọn đời cho Việt Nam. Vì vậy chúng tôi quyết định đi theo Giáo Sư Huy hoạt động và nhờ đó có dịp tìm hiểu ghi lại đóng góp một vài sự kiện liên quan đến con người đặc biệt này. 

II . Công trình sáng tác  

Giáo Sư Huy qua đời để lại một công trình sáng tác đồ sộ gồm hàng chục tác phẩm lẫy lừng trải dài trên nhiều lãnh vực khác nhau. Điểm rất lạ là suốt đời Giáo Sư Huy hoạt động tranh đấu, lãnh đạo đoàn thể, đấu trí chống lại các thế lực độc tài, rồi lại bị bịnh ung thư kéo dài gần 10 năm, vậy mà vẫn có thể viết ra được quá nhiều những tác phẩm độc đáo. 

Tìm hiểu thì thấy Giáo Sư Huy rất ham đọc sách, rất ham tìm hiểu. Thuở nhỏ ăn ở làm việc trong Thư Viện Quốc Gia tại Sàigòn, lớn lên làm luận án tiến sĩ tại Ðại Học Paris, về già nghiên cứu tại Ðại Học Harvard, toàn những nơi tàng trữ sách quý nên ông có cơ hội tìm tòi. Ngoài ra lại thông thạo 3 sinh ngữ quan trọng (Anh, Pháp, Hán) nên càng dễ dàng tham khảo. Vào ngày 4.8.1990 tại Austerlitz (Hoà Lan), Bác Sĩ Trần Ngọc Quang (Pháp) đã ca ngợi kiến thức uyên bác hầu như lãnh vực nào giáo sư Huy cũng thông suốt. Mà quả thực vậy, nhìn lại toàn bộ các tác phẩm của ông đã cho thấy rõ điều đó. Nội trong quyển ‘‘Quốc Triều Hình Luật’’ dầy 263 trang được dẫn chứng 478 lần rút từ trên 100 quyển sách. Quyển Perstroika (Anh, Pháp, Việt) dầy 497 trang với 639 dẫn chứng của trên 200 tác phẩm ngoại quốc. Cũng nhờ một kiến thức uyên bác như vậy, Giáo Sư Huy tạo được sự kính nể và dễ thuyết phục người đối diện.  

Có lẽ nhờ  kiến thức uyên bác, trí nhớ hiếm có, lối làm việc đam mê khác thường bất kể không gian và thời gian và nghị lực phi thường, Giáo Sư Huy viết được nhiều tác phẩm bất hủ như vậy. Ông còn rất nhiều dự định sáng tác, và khi ra đi ông còn để lại nhiều di cảo. Trong những năm cuối cùng ông thường tâm sự, nếu có thì giờ rảnh rỗi thì cứ mỗi tháng có thể viết xong một tác phẩm. Mặc dù trách nhiệm đè nặng trên đôi vai gầy, ông đã cố gắng viết được các tác phẩm giá trị tiêu biểu như sau:

Perestroika (Anh Ngữ, Pháp Ngữ và Việt Ngữ) 

Quốc Triều Hình Luật (Anh Ngữ và Việt Ngữ) 

Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Kiếm Hiệp Kim Dung

Tập Thơ Hồn Việt 

Một Chiến Lược Mới Bảo Vệ Thế Giới Tự Do Chống Cộng Sản Bành Trướng (Anh ngữ và Pháp ngữ) 

Hàn Phi Tử

Lịch Sử Các Học Thuyết Chánh Trị 

Ðề Tài Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chánh Trị Trung Quốc Cổ Thời

Dân Tộc Sinh Tồn, chủ  nghĩa Quốc Gia Khoa Học

Tên Họ Người Việt Nam (di cảo được xuất bản năm 1998)

Thua Là Giặc

Phê Bình Nhân Vật Trong Tam Quốc Chí - Tây Hán Chí - Ðông Châu Liệt Quốc

Những Hành Ðộng Phạm Pháp Trong Truyện Kiều xét theo Luật Pháp cổ truyền Việt Nam và Trung Hoa

Lục Súc Tranh Công (Anh Ngữ, Việt Ngữ)

Lịch Sử Tranh Ðấu cho Ðộc Lập và Tự Do Của Dân Tộc Việt Nam Từ  Giữa Thế Kỷ Thứ 19.

Trong đó có 6 tác phẩm được coi là đắc ý nhứt: 

Thơ  Hồn Việt

Đây là tác phẩm đầu tay được Giáo sư Huy qua thi hiệu Đằng Phương trân quý và hãnh diện nhứt.  Bao gồm những bài thơ đầy lòng ái quốc, thể hiện rỏ lý tưởng của giáo sư Huy từ lúc thiếu thời dấn thân vào con đường tranh đấu đến khi lìa đời. Những bài thơ “Anh Hùng Vô Danh”,  "Ngày tang Yên Bái" .... đã được chọn giảng dạy tại học đường và đã trở thành những vần thơ lịch sử nổi tiếng của Dân Tộc Việt.  

Dân Tộc Sinh Tồn, Chủ  Nghĩa Quốc Gia Khoa Học

Qua kinh nghiệm đau thương, tổ chức bị phân tán khi lãnh tụ  Trương Tử Anh bị thất tung, Giáo Sư Huy đã dụng tâm, suy nghĩ, điều chỉnh chủ thuyết lại để thâu nhận các nguyên tắc tự do và dân chủ hợp hiến, phù hợp với tiến trình nhân loại. Ông đã dứt khoát bác bỏ đường lối lãnh tụ chế, vì nhận thấy sẽ đưa đên thảm họa độc tài.  

Ðề Tài Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chánh Trị Trung Quốc Cổ Thời

Là luận án Tiến Sĩ của Giáo Sư Huy và được chấm xuất sắc nhứt trong niên khóa 1962-1963 tại Viện Ðại Học Paris . Ðây là sở học căn bản của ông và nhờ đó ông đã nổi tiếng là chuyên viên về địa hạt này tại các Ðại Học ở Quốc Nội cũng như Quốc Ngoại. Trong tất cả các sách, tài liệu chính trị về sau, ông đều trích dẫn rút ra từ tác phẩm căn bản đắc ý này. 

Các  Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ  Hiệp Kim Dung

Thoạt nhìn thì đây là quyển sách chỉ nhằm giải trí. Nhưng thực sự Giáo Sư đã dụng tâm lớn lao khi viết tác phẩm này. Ai cũng biết, nhờ hành văn kể chuyện đầy hấp dẫn và bố cục kết cấu tinh vi, truyện kiếm hiệp của Kim Dung đã lôi cuốn cả hàng tỷ độc giả trên thế giới. Ngay tại Việt Nam hầu như đa số đã có thời say mê kiếm hiệp Kim Dung. Vì vậy lợi dụng đề tài hấp dẫn này Giáo Sư Huy muốn trình bày, giải thích lợi hại của đường lối chính trị (nhứt là tai hại của chủ trương độc tài) và từ đó đưa ra thông điệp chính trị với những đề nghị cụ thể nhằm đạt được mục tiêu mang lại yên vui hạnh phúc cho người dân. Tác phẩm này được xuất bản nhiều lần tại Hoa Kỳ, Pháp và Úc. 

Quốc Triều Hình Luật

Ðây là bộ sách bách khoa bao gồm nhiều lãnh vực văn hóa lịch sử Việt Nam. Qua thời gian dài nghiên cứu, Giáo Sư Huy khám phá ra sự thực:

- Ai là tác giả  của Bộ Luật Hồng Ðức

- Từ triều đại nào phát sinh tinh thần giáo điều, mà đã làm một dân tộc Việt Nam thông minh, can đảm, quật cường nay phải chịu thảm cảnh đất nước tan nát nghèo đói.

Trong bài viết cuối cùng được đọc tại Hòa Lan vào ngày 4 tháng 8 năm 1990, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy ước mong khi đất nước được thanh bình thì lập tức lui về quê nhà viết sách phân tích rõ ràng tại sao một dân tộc có lịch sử oai hùng mà lần lần lụn bại đến nỗi nay trở nên một trong vài quốc gia nghèo nhất thế giới.  

Perestroika

Sự kiện lãnh tụ Liên Xô Gorbachev thay đổi chính sách làm đảo lộn tình hình thế giới. Ðiều này đã dẫn tới cuộc cách mạng tại các xứ cộng sản Ðông Âu và chắc chắn sẽ làm chủ nghĩa cộng sản độc tài tan biến trong tương lai để Việt Nam sẽ thoát khỏi gông cùm cộng sản. Giáo Sư Huy đã phân tích rõ ràng trong tác phẩm này dày 402 trang gồm 5 chương với dẫn chứng từ trên 200 tác phẩm. Theo lời ông Cao Thế Dung, đây là một tác phẩm rất quan trọng của Giáo Sư Huy. Tác phẩm này được xuất bản qua 3 thứ tiếng (Anh, Pháp, Việt) để góp vào diễn đàn tư tưởng chánh trị quốc tế.  

Một giai thoại hi hữu là bản thảo "Tên Họ Người Việt Nam" bị thất lạc lúc Giáo Sư Huy qua đời năm 1990 và ai cũng tưởng rằng bị mất luôn tài liệu quý giá này. Chúng tôi tiếc lắm, vì biết rõ Giáo Sư đã bỏ rất nhiều thì giờ nghiên cứu biên khảo và có lần Giáo Sư nhờ tìm kiếm một số danh tánh của các nhân vật nổi tiếng Tây Đức có ý nghĩa giải thích được nguồn gốc tên họ ở Âu Châu. Chúng tôi đã sưu tầm và dịch ra gửi đến cho Giáo Sư. Bất ngờ gần 10 năm sau, có lẽ nhờ sự hiển linh của hương hồn GS Huy, Giáo Sư Trần Minh Xuân với sự trợ giúp của Tiến Sĩ Nguyễn Văn Trần tìm được bản thảo và xuất bản thành sách dày 206 trang. Chúng tôi nhận được sách tặng và rất cảm động đọc thấy lại kỷ niệm năm xưa qua những dẫn chứng với tên họ người Đức được xử dụng như Tổng Thống Freiherr von Weizsaecker, Nữ vô địch quần vợt Steffi Graf, Bộ Trưởng Nội Vụ Zimmerman, Nam vô địch bơi lội Michael Gross... 

III . Con Người Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy  

Tình Yêu Tổ  Quốc

Lớn lên với tâm tình nồng nhiệt cho quê hương, năm 21 tuổi ông đã dứt khoát gia nhập đảng cách mạng để tranh đấu tự do cho đất nước. Từ đó cho đến hơi thở cuối cùng, con người Nguyễn Ngọc Huy hiến dâng trọn vẹn cho Dân Tộc Việt Nam. Những vần thơ Hồn Việt đầy rung động đã được ông gởi gắm vào tâm tình nồng nàn ấy. Vì tình yêu tổ quốc, con người tài hoa lỗi lạc đó chọn một cuộc sống đạm bạc, đơn giản và đầy gian nan thử thách. Ông đã đi không ngừng, đi rất nhiều nơi, xuất hiện biết bao nhiêu lần trên diễn đàn và hội nghị quốc tế để bênh vực chính nghĩa của người Việt Tự Do.  

Tình Yêu Gia Đình

Trong buổi lễ ra mắt tập thơ Hồn Việt tại California (Hoa Kỳ) có thính giả hỏi về bài thơ tặng bạn Ngọc Ðiệp phải chăng dành cho bạn gái. Giáo Sư Huy đã cho biết  đó chỉ là người bạn cùng tranh đấu. Với giọng thổn thức đẫm lệ ông còn cho biết trong đời ông chỉ có một tình yêu cho người đàn bà. Ðó là người vợ (nhũ danh Dương Thị Thu) đã qua đời vào năm 1974 (tai nạn tại bãi biển Vũng Tàu) và một tình yêu nữa là cho Tổ Quốc Việt Nam mà thôi. Khi bà Huy qua đời, mặc dù lúc đó còn ở tuổi trung niên đầy danh vọng và tài hoa, Giáo Sư Huy ở vậy nuôi con tôn thờ hình ảnh người vợ hiền cho đến chết. Thật là một trường hợp hạn hữu. Đặc biệt hơn nữa, ông để lại ước nguyện được hỏa táng để sau này tro tàn mang về Việt Nam thổ táng trộn cùng xương cốt của người vợ hiền năm xưa. 

Tình Nghĩa Thâm Sâu 

Một điểm nổi bật nhứt của Giáo Sư Huy là được mọi cộng sự  viên kính nể và thương yêu thật sự. Thực là  một hiện tượng hiếm có trong thời đại đầy nhiễu nhương và đổ vỡ này. Tiền bạc, danh vọng, ông chả còn gì trong tay để lôi cuốn dẫn dụ người khác cả. Nhưng rất nhiều người đã hết lòng hết dạ hy sinh thời giờ, tiền bạc và hạnh phúc gia đình để đi theo ông. Có nhiều chủ quan khác nhau, nhưng chắc chắn một điều là họ đặt niềm tin thực sự vào con người Nguyễn Ngọc Huy. Một con người chân thành không hề chủ trương bá đạo, đạt tình yêu Tổ Quốc lên trên hết và luôn luôn có tình nghĩa thâm sâu với các cộng sự viên. 

Tấm Lòng Quân Tử

Dù trong hoàn cảnh nào, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cũng luôn luôn giữ được nét mặt hòa nhã với nụ cười vui vẻ từ tấm lòng chân thành mà ra. Từ năm 1982 bị mắc bịnh ung thư, tuy vậy ông cố gắng kiềm chế không để tâm tình nóng nảy bộc lộ. Năm 1986 anh em bên Pháp có sự bất đồng nội bộ. Ngay đêm đó Giáo Sư Huy triệu tập một buổi họp trong vòng thân mật, rồi chỉ nhẹ nhàng trách khẽ những điều đáng tiếc đã xảy ra và ông tỏ vẻ đau đớn không còn thấy tình cảm thắm thiết sống chết có nhau như thuở xa xưa thời chống Pháp. Mọi người trong phiên họp đều yên lặng thấm thía trước lời khiển trách đó và cuộc tranh chấp được tự động hóa giải.  

Cuối cùng, biết sức mình sắp tàn, Giáo Sư Huy đã ráo riết làm việc không ngừng, chạy đua với tử thần để cố  ráng làm xong sứ mạng cứu dân cứu nước. Đến năm 1990, ông chuẩn bị mọi việc, viết sẵn dặn dò mọi điều cần thiết cho Đại Hội Thế Giới Kỳ 1 để phòng hờ khi ông lìa đời với hy vọng tổ chức của ông sẽ tránh thoát những khó khăn có thể đưa đến suy vong. Di sản chính trị của ông để lại bàng bạc trong các tác phẩm, đặc biệt trong các tài liệu học tập. Giáo Sư Huy là người chủ trương tự do dân chủ thực sự, quyết liệt chống đường lối lãnh tụ chế, độc tài (dù là loại độc tài yêu nước mà các xứ chậm tiến như Việt Nam thường ca ngợi). Ông đã đưa ra bài học Bắc Mỹ và Nam Mỹ cũng được độc lập. Bắc Mỹ chọn con đường tự do dân chủ thực sự nên đã thành cường quốc, dân chúng sống hạnh phúc ấm no. Trong khi đó Nam Mỹ chủ trương độc tài yêu nước, rốt cuộc đến nay vẫn còn đầy đảo chánh hỗn loạn, dân chúng sống trong áp bức đói khổ.

Ngoài ra ông âu lo nhiều về tinh thần giáo điều đã thấm sâu vào huyết quản dân tộc Việt Nam, đưa đến nạn chia rẽ, kỳ thị (tôn giáo, địa phương, chủng tộc...) làm đất nước càng ngày càng suy vong.  

Tuy vậy Giáo Sư Huy đặt rất nhiều hy vọng vào tương lai, vì nọc độc đó đã phát hiện được thì sẽ tuyệt trừ được. Trong buổi tiệc trà thân mật vào mùa hè 1989 tại thành phố Wiesbaden (Tây Ðức), ông đã tâm sự tin chắc đất nước Việt Nam mai này sẽ được tự do dân chủ và thế hệ tương lai sẽ giỏi dắn hơn, xây dựng được một đất nước ấm no hơn thế hệ của ông.

Có lẽ đó chính là biểu tượng rõ ràng cho tinh thần Nguyễn Ngọc Huy, lúc nào cũng đầy quyết tâm và lạc quan hướng về tương lai dân tộc. Dù khen hay chê, phải khách quan nhìn nhận trong cùng hoàn cảnh thời đại này chưa ai dám chắc làm được nhiều việc tốt đẹp hơn ông. Một người đã dám sống tận tụy một tay chăm sóc mọi việc lớn nhỏ cho đến nỗi kiệt sức trút hơi thở cuối cùng. Thật khó tìm lại được một tấm gương tài đức vẹn toàn và hy sinh cho đại cuộc như vậy trong cõi đời đầy nhiễu nhương này. 

Trần Nguyên   


Thơ Hồn Việt

LTS: Thơ Hồn Việt được đặc biệt cho đăng tải dưới đây, vì từng bao trùm một giai thoại ly kỳ "độc nhứt vô nhị" trong lịch sử thơ văn Việt Nam. Những bài thơ ái quốc nổi tiếng như Anh hùng vô danh, Ngày tang Yên Bái, Ngọn đuốc Việt Nam, Quyết sống ... đã được chọn giảng dạy tại học đường từ thời Pháp thuộc và đã trở thành những vần thơ lịch sử của Dân Tộc Việt. Những vần thơ ái quốc đó được tác giả sáng tác lúc 17 tuổi. Đến lứa tuổi đôi mươi xuất bản tập thơ ái quốc đầu tiên mang tên Hồn Việt (nxb Đuốc Việt 1950). Vì lúc đó dưới thời thực dân Pháp nên phải giấu danh tánh thực của tác giả. Sau đó, đặc biệt cả hai miền Nam Bắc đều giảng dạy những dòng thơ ái quốc đó trong học đường, mà ai cũng tưởng là một tác giả vô danh. Mãi đến lúc tròn 60 tuổi, tác giả cho tái bản tập thơ Hồn Việt và "xuất đầu lộ diện". Không ai ngờ nổi, thi sĩ Đằng Phương chính là một nhân vật quen thuộc và nổi tiếng của miền Nam về những hoạt động văn hóa, giáo dục, báo chí và ... quốc sự. Đó chính là Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.

Trong buổi lễ ra mắt tập thơ Hồn Việt tại California (Hoa Kỳ) có người hỏi về bài thơ tặng bạn Ngọc Ðiệp phải chăng dành cho một bạn gái. Giáo sư Huy đã cho biết đó chỉ là người bạn cùng tranh đấu. Với giọng thổn thức đẫm lệ ông còn cho biết trong đời ông chỉ có một tình yêu cho người đàn bà. Ðó là người vợ (nhũ danh Dương Thị Thu) đã qua đời vào năm 1974 (tai nạn tại bãi biển Vũng Tàu) và một tình yêu nữa là cho Tổ Quốc Việt Nam mà thôi. Ông đã được bà cảm thương khi đọc những bài thơ Hồn Việt. Bà Huy sinh trưởng trong gia đình gia giáo khoa bảng tại miền Nam (chị ruột là bà Dương Hải Ðường, Giám Ðốc Trường Kỹ Sư Hóa Học Phú Thọ). Anh em hoạt động chung có kể lại giai thoại Giáo sư Huy đi hỏi vợ. Ông đã đưa ra 2 điều kiện tiên quyết: a) Ông được tiếp tục hoạt động tranh đấu cho đất nước. b) Bà phải tôn kính bên chồng, nếu có gì không hài lòng thì nói cho ông biết chứ không được tự tiện giải quyết, ngược lại ông cũng như vậy đối với bên gia đình bà. Vì cảm tài đức, gia đình bên vợ cuối cùng bằng lòng gả cưới. Khi bà Huy qua đời, mặc dù lúc đó còn ở tuổi trung niên đầy danh vọng và tài hoa, Giáo sư Huy ở vậy nuôi con tôn thờ hình ảnh người vợ hiền cho đến chết. Thật là một trường hợp hạn hữu.

Như vậy có thể khẳng định rằng Thơ Hồn Việt được Gs Huy coi là sáng tác quan trọng nhứt, vì đó là tác phẩm đầu đời và sau đó theo sát cả cuộc đời của Gs Huy trong quan niệm sống "Tri hành hợp nhứt".

Ngọn đuốc Việt Nam

Ngọn đuốc ấy tự bốn nghìn năm trước
Đã được người thủy tổ giống Rồng Tiên
Đốt lên bằng mt ánh lửa thiêng liêng;
Aùnh lửa dũng nung lòng dân tc Việt.
Từ đó, lúc âm thầm, khi mãnh liệt,
Ngọn đuốc thần luôn sáng mãi không ngưng,
Trải bao cơn mưa bão nổi tưng bừng,
Đuốc vẫn cháy phừng phừng không lúc tắt.
Sức đè nén nặng nề như khối sắt
Của bọn người dị tc đến xâm lăng
Cũng không làm cho đuốc Việt tiêu tan;
Chỉ âm ỉ lu mờ trong mt lúc
Rồi đuốc Việt lại tưng bừng đỏ rực
Bốc cao vời, chiếu rạng cả non sông.
Aùnh sáng tươi của ngọn đuốc kiêu hùng
Đã bao lượt khiến trời Đông chói lọi.
Ngọn đuốc cháy muôn đời không biết mỏi
Như tấm lòng dũng cảm giống Rồng Tiên,
Như cả dòng nhựa sống cun dâng lên
Trong huyết quản của người dân nước Việt.
Ngọn đuốc cháy hiên ngang và quả quyết
Như tinh thần quật khởi của dân ta,
Như tinh thần tha thiết nước non nhà
Bồng bt mãi chẳng bao giờ ngui lạnh.
Là nguồn sáng tỏ rạng ngời muôn ánh
Là tượng trưng đời sống mạnh vinh quang
Của non sông,ngọn đuốc Việt huy hoàng
Quyết cháy sáng tưng bừng muôn vạn thuở.


Nén Hương Lòng

Vận nước u trầm tự mấy thu,
Muôn dân quằn quại dưới gông tù,
Đâu đây vẳng tiếng hờn sông núi
Kêu gọi trung cang báo quốc thù.

Ôi! Biết bao nhiêu kẻ bạc đầu
Còn mong trả sạch nợ mày râu,
Bao nhiêu tráng sĩ hờn sôi máu
Cạn chén quan hà, thẳng vó câu.

Ôi! Biết bao nhiêu khách má đào
Đã đem kim chỉ đổi cung đao
Bao nhiêu nho sĩ  quăng nghiên bút
Cởi áo thư sinh, khoát chiến bào.

Ly biệt quê hương, diệt ái tình,
Gia đình, hạnh phúc, thảy hy sinh.
Họp nhau thề nguyện vì non nước
Rửa sạch bao nhiêu nỗi bất bình.

Rồi đó lao mình giữa đấu tranh,
Trong vòng nguy hiểm mặc tung hoành,
Phải bao lao khổ, bao xương máu,
Nguyện vọng cao siêu mới đạt thành.

Nhưng từ khi sẽ niệm câu thề
Đến lúc san hà được giải nguy,
Biết bao tang tóc trong hàng ngũ:
Cách mạng muôn đi, mấy trở về?

Bao kẻ phơi thây giữa chiến trường
Mt ngày non nước nhum sầu thương
Mt ngày khởi nghĩa chìm trong máu,
Vùi dập âm thầm dưới núi xương.

Bao kẻ anh hùng đã nát thân
Ngã mình trước mũi súng thù nhân,
Rụng đầu dưới kiếm loài tham nhủng
Quyết đắp an ninh với bạo tàn.

Bao kẻ tan thân chốn ngục tù,
Chết mòn trong những khám âm u,
Nắm xương tàn rũ nơi hoang đảo
Hay giữa rừng sâu, núi mịt mù.

Bao kẻ không may lánh cõi đời
Trong khi lưu lạc chốn xa khơi,
Bên mình không mt người quen thuc,
Hồn phách bơ vơ mãi đất người.

Có kẻ nghìn thu được quốc dân
Phụng thờ tôn kính tựa thiên thần,
Vinh quang rạng chói lòa tên tuổi
Và khói hương luôn quyện m phần.

Có kẻ chìm trong hố lãng quên
Vì đời luôn phủ giữa màn đêm,
Nắm xương xiêu lạc nơi hoang dại
Không mt ai còn nhắc đến tên.

Có kẻ vô tình chịu chết oan
Trong cơn đảng phái Việt tương can,
Trọn đời phấn đấu vì non nước
Để chết vì hai tiếng "Việt gian".

Những kẻ từ xưa lấy máu hồng,
Lấy bao cân não đắp non sông,
Tuy theo nhiều lối, nhiều xu hướng
Nhưng vẫn cùng chung mt tấm lòng.

Và dẫu ngày nay được phụng thờ,
Bị quên hay phải chuốc danh nhơ,
Bao giờ họ cũng là anh kiệt
Liều chết cho dân tc hưởng nhờ.

Hỡi những ai kia đã lụy mình
Đã vì non nước chịu hy sinh,
Đã vì chủng tc khai đường sống:
Đây nén hương lòng kẻ hậu sinh!


Thái Thú  Khiếp Nhược

Giáo Già

Ngày 22 tháng 7 năm 2009

H,

Tại miền Bắc California, buổi chiếu ra mắt phim “Sự Thật về  Hồ Chí Minh” [được thực hiện bởi Phong Trào Quốc Dân Ðòi Trả Tên Sài Gòn] được Thanh Niên Cờ Vàng Bắc California tổ chức tại Trường Trung học Independence thành công ngoài dự trù của ban tổ chức, với số người tham dự hết ghế ngồi phải đứng tràn ra cửa ra vào. Ðược mời phát biểu trước quan khách, Ba đã đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cuốn phim được thực hiện dưới dạng DVD. Vì “Dưới dạng phim ảnh nó sẽ thu hút số người xem để biết mặt thật tội phạm Hồ Chí Minh và sự gian trá của CSVN lên đến nhiều triệu, nhiều chục triệu, hay hơn nữa, trong khi một cuốn sách viết về Hồ Chí Minh, chẳng hạn như cuốn Nhận Diện Hồ Chí Minh và nhiều cuốn sách khác nữa số người xem chỉ đếm tới số ngàn. Mặt khác, người có học vấn ít cũng dể có cơ hội xem phim; và hình ảnh trong phim cũng dễ lôi cuốn người xem hơn đọc một cuốn sách. Cuốn phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh” khi được đưa vào Việt Nam, được quảng báo rộng rãi (cho dầu lén lút ố dĩa DVD dễ chuyền tay như các DVD ca nhạc) từ thành thị đến nông thôn, sẽ góp phần rất lớn trong việc làm sụp đổ thần tượng Hồ Chí Minh, từ quần chúng cho đến đảng viên cán bộ Nhà nước, giúp họ giác ngộ những lầm lạc từ lâu vì bị guồng máy tuyên truyền của Ðảng và Nhà nước nhồi sọ. Từ đó “độc đảng độc tài” chắc chắn sẽ tiêu vong”.

Nếu trước đây sự gian dối của Ðảng CSVN về cái chết của Hồ Chí Minh được Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Ðảng Khóa VI giải thích trong thông báo số 151/TB-TƯ của Bộ Chính Trị, ngày 19-8-1989, rằng “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2 Tháng Chín năm 1969, ngày quốc khánh của nước ta. Ðể ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc, Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng (khóa III) đã quyết định công bố Chủ Tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3 Tháng Chín 1969. Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng (khóa VI) cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ Tịch Hồ Chí Minh qua đời”. Nếu điều này chỉ khiến dư luận coi như đó là chuyện “riêng” của Ðảng, thì ở đây “mặt thật” Hồ Chí Minh được vạch rõ, với trùng trùng tội ác do Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN gây ra, sẽ có tác động làm sụp đổ chế độ CSVN mà không có thế lực nào có thể ngăn cản được.

Bao lâu sụp đổ, chưa ai đoán được, nhưng những chỉ dấu sụp đổ từng ngày hầu như ai cũng có thể thấy trên sự khiếp nhược của bọn Thái Thú cầm quyền. Khi theo dõi tin tức dồn dập trong mấy ngày gần đây không ai không đau lòng nhận thấy những vụ tầu đánh cá Việt Nam bị tầu Trung Quốc tấn công đã tăng lên trong mấy năm qua, đặc biệt là năm 2009 này. Tin được ghi lại trên báo Người Việt Online cho biết “Chỉ trong vòng hai tháng qua, ba tàu đánh cá của dân xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi bị tàu lạ đâm chìm vào ban đêm trên biển. Từ Tháng Giêng, một tàu đánh cá của ngư dân Phú Yên đã bị một tàu lạ đâm chìm ở vùng biển Ðại Lãnh, chín ngư dân mất tích. Ðến Tháng Ba, một tàu đánh cá ở Bạc Liêu bị một tàu lạ khác đâm chìm, hai người tử nạn và hai người mất tích. Ðầu Tháng Năm, một tàu ngư dân thuộc huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, khi đang vây bắt cá ở cách bờ chừng 65 hải lý thì bất ngờ bị một tàu nước ngoài đến yêu cầu dỡ lưới đi nơi khác, nếu không sẽ gặp rắc rối. Ngày 22 Tháng Năm, một tàu cá khác từ huyện Ðức Phổ, Quảng Ngãi đã bị một tàu nước ngoài tấn công ngay trên nơi thả lưới, lấy đi hơn một nửa số cá vừa đánh bắt được. Bọn cướp trên chiếc tàu lạ này còn dùng lưỡi lê đâm thủng thuyền thúng dùng làm xuồng cứu nạn... Ngay đầu Tháng Sáu, một chiếc tàu của ngư dân huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã bị hai tàu lạ tấn công, phải bỏ lưới thoát thân”... Riêng tỉnh Quảng Ngãi bị chú ý đặc biệt, đến nay đã có 33 chiếc tàu đánh cá với 373 ngư dân là bị Trung Cộng bắt, riêng năm 2007 đã có 9 ngư dân bị giết chết hoặc bị thương. Những người này bị buộc phải nộp tiền chuộc từ 50 đến 70 ngàn Yuan tức từ 9 đến 11 ngàn đô-la mới được trả tự do. Tại họa đến với dân Quảng Ngãi chắc vì quần đảo Hoàng Sa thuộc vùng này...” Vậy mà Ðảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vẫn im lặng, còn đe dọa báo chí không cho lên tiếng.

Ðến khi biết Luật sư Lê Công Ðịnh chuẩn bị đưa nội vụ ra Tòa án Hình sự Quốc tế thì lập tức Ðảng cho lịnh công an khẩn cấp bắt ông này theo sự chỉ đạo tại Hà Nội của Ủy viên Bộ Chánh trị Cộng sản Trung Quốc Lý Nguyên Triều. Ðiều này chứng tỏ thái độ khiếp nhược của đám Thái Thú cầm quyền, đứng đầu là Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Chưa hết, sự phản đối quyết liệt của dư luận trong và ngoài nước đối với việc các Thái Thú Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Tấn Ðũng cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Cao Nguyên Trung Phần có thể làm lung lay chế độ, khiến các Thái Thú khiếp nhược hoảng sợ phải cho Nguyễn Văn Thuấn, quyền Cục trưởng Cục Ðịa chất và Khoáng sản Việt Nam, thuộc Bộ Công nghệ - Tài nguyên - Môi trường, lên tiếng nói với đài BBC rằng “tuy có việc xây cất nhà máy chế biến quặng, các dự án cần phải có giấy phép khai thác mới có thể hoạt động” để mong dư luận im tiếng, cho Trung Quốc hài lòng, cho công trường Tân Rai ở huyện Bảo Lâm, Lâm Ðồng, do tập đoàn Chalieco của Trung Quốc làm nhà thầu chính, có tới 570 công nhân Trung Quốc tham gia làm việc, cứ ráo riết hoạt động, tuy chưa có giấy phép.

Nỗi khiếp nhược của những kẻ không dám nhìn “KẺ THÙ SAU LƯNG” được “Gót Asin” ghi lại trong bài viết ngày 20-7-2009. Xin trích lại vài đoạn từ Web X-Cafe:

“Khi chúng ta hân hoan ăn mừng chiến thắng Ðiện Biên Phủ năm 1954, thì chúng ta không biết rằng những đợt đấu tố, cải cách ruộng đất, chỉnh phong... đang chờ chúng ta. Trong 2 năm 1955, 1956, theo gợi ý, và phần nhiều là ép buộc của Trung Quốc, nhà nước VN dân chủ non trẻ và ngây thơ phải thực hiện các cuộc cải cách ruộng đất theo mô hình Trung Quốc, mà kết quả là hàng vạn người đã bị giết oan... Người VN ta đã hùng hục lao vào cuộc chiến đấu với thực dân Pháp, mà không nghĩ tới kẻ thù nguy hiểm ở đằng sau lưng ta... nguy hiểm hơn thực dân Pháp nhiều... Năm 1974, “người bạn lớn” tranh thủ lúc người Mỹ rút khỏi miền Nam, và lợi dụng lòng tin vào tình bạn, tình đồng chí của Chính phủ VN phía Bắc, đã bất ngờ tấn công lấy toàn bộ quần đảo Hoảng Sa. Suốt 4000 năm lịch sử của cha ông ta, quần đảo Hoảng Sa không mất. Nhưng nay, vì Ðảng ta tin vào người bạn lớn, mà quần đảo Hoàng Sa đã bị mất vào tay người bạn lớn... Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Ðảng ta vẫn không nhìn thấy cái nguy cơ kẻ thù ở sau lưng kia, nên đã hoàn toàn bị động với kẻ thù ở biên giới Tây Nam-Polpot. Chính người bạn lớn đã đạo diễn, và trang bị toàn bộ vũ khí, phương tiện cho quân Polpot tấn ta ở biên giới Tây Nam. Ðảng ta hoàn toàn bị động về điều này. Cho đến cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979, Ðảng ta cũng hoàn toàn bị động. Toàn bộ quân chủ lực của ta đều ở Campuchia, phía Bắc chỉ có du kích, quân địa phương, và sinh viên các trường đại học được huy động lên biên giới, đào phòng tuyến. Rất may khi đó dân ta thông minh, dũng cảm, và quân của người bạn lớn thì ngây ngô, không biết đánh nhau, vũ khí thì lạc hậu. Nên người bạn lớn đành chịu thua, ôm hận rút quân. Nhưng sau những chuyện liên tục, có tính hệ thống về việc “xỉa dao sau lưng ta” của người bạn lớn, Ðảng ta vẫn chưa quan tâm đến kẻ thù sau lưng... để rồi năm 1988, người bạn lớn bất ngờ tấn công đảo Gạc Ma ở Trường Sa, giết hại 61 chiến sĩ dũng cảm của ta, và chiếm đảo Gạc Ma... Chưa có bao giờ nước ta yếu so với người bạn lớn như hiện nay. Người bạn lớn chiếm Hoàng Sa, chiếm một số đảo ở Trường Sa, tấn công biên giới phía Bắc, xúi bẩy Polpot gây chiến tranh ở phía Nam, ngăn cản các công ty nước ngoài không được làm ăn với ta ở biển, bắn chết ngư dân Thanh Hóa năm 2005, cấm đánh bắt cá, đâm tàu, và bắt ngư dân của ta...”

Nhận diện  KẺ THÙ SAU LƯNG đưa tới Ðại Họa Trung Quốc đô hộ Việt Nam đó, Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy và Hội Cựu Tù Nhân Chánh Trị Sacramento, nhân ngày tưởng niệm năm thứ 19 cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời, thêm một lần nữa, tổ chức buổi Hội Luận về “Ðại Họa Bauxite và Bắc Thuộc Lấn Thứ 5” t?i Stockton Blvd Resource Center, 5625 Stockton Blvd. Sacramento, CA 95824, vào lúc 11 giờ trưa ngày 25-7-2009, để vạch rõ sự khiếp nhược của các Thái Thú đang cầm quyền ở Việt Nam và tiếp bước các nhà đấu tranh Dân Chủ Hóa Việt Nam tiến về phía trước trên đường thực hiện Tâm Nguyện Nguyễn Ngọc Huy, phần nào được bộc lộ qua các tác phẩm được giới thiệu trong buổi Hội Luận, bọc lộ tư tưởng của các tác giả, đặc biệt là tư tưởng chánh trị của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và Giáo sư Nguyễn Văn Bông qua 2 tác phẩm “Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung”“Di Cảo Giáo sư Nguyễn Văn Bông”.

Xin được trích đăng lại đây một phần trong bài phát biểu được TMX soạn trước dành cho buổi Hội Luận này:

...“Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” là tác phẩm tưởng như chỉ để giải trí, như các cuốn truyện võ hiệp được xuất bản lâu nay. Nhưng, không. Ðây là tác phẩm ghi đậm tư tưởng Nguyễn Ngọc Huy trong suốt chiều dài Giáo sư đấu tranh cho DÂN BẢN, ÐỘC LẬP, TỰ DO, HÒA BÌNH và TRUNG LẬP cho Tổ Quốc Việt Nam, đấu tranh cho sự SINH TỒN của dân tộc Việt Nam.

Ngay từ  những trang đầu của tác phẩm, khi ghi lại lời nói của ông Trần Việt Sơn, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã bộc lộ tư tưởng chánh trị của mình, lúc tham dự Hội đàm Paris từ cuối năm 1968. Giáo sư viết: “Lúc bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ vừa chấm dứt, Ông Trần Việt Sơn đã viết bài đăng trong hai số 1683 và 1684 của báo CHÍNH LUẬN để nêu ra một số nhận xét về hồi kết cuộc của bộ truyện đó... Ông Trần Việt Sơn đã nhấn mạnh chỗ trong TIẾU NGẠO GIANG HỒ, các phái không thực hiện được sự đoàn kết nội bộ và không thật tâm đoàn kết với các môn phái cùng mục tiêu đấu tranh đều bị tiêu diệt. Ông cũng lưu ý rằng những người sống sót trong cuộc đấu tranh, không những sống sót mà còn thành công rực rỡ, là những người tính việc đoàn kết thực sự, có thái độ quên mình để lo cho đại cuộc, nên không tranh giành quyền vị, và áp dụng đúng những nguyên tắc của lẽ đạo Ðông Phương”.

Cũng trong “Lời Nói Ðầu” của tác phẩm “Các  Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết: “...nghiên cứu các ẩn số chánh trị trong một số tác phẩm của Kim Dung, ta có thể suy đoán rằng tác giả là một người vốn theo lý tưởng cách mạng tả khuynh. Lúc ban đầu, ông tỏ ra có thiện cảm với các đoàn thể theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các quốc gia theo chế độ cộng sản, và đo đó mà chọi lại các đoàn thể thuộc hữu phái và các nước Tây Phương. Nhưng sau đó, ông nhận chân rằng người cộng sản áp dụng một chánh sách chuyên chế toàn diện, tàn ác và phi nhơn, nên ông đã quay ra kết án họ. Ông cũng đồng thời điều chỉnh lại cái nhìn của ông đối với các đoàn thể chánh trị có lập trường chống chọi lại nhau. Ông không còn xem các đoàn thể ấy là chỉ gồm những người tốt và hoàn toàn phải, hoặc chỉ gồm những người xấu và hoàn toàn quấy, mà cho rằng mỗi đoàn thể đều có những người tốt và những người xấu, và thường thì vừa có phần phải vừa có phần quấy. Mặt khác, một số nhơn vật nổi tiếng và có khả năng cũng không phải được xem như là hoàn toàn tốt và thuộc phe chánh, hay hoàn toàn xấu và thuộc phe tà. Nhưng kế bên sự thay đổi trong cái nhìn về các đoàn thể và các nhơn vật dính dáng đến cuộc tranh đấu chánh trị, Kim Dung đã đưa ra một triết lý bất biến về cuộc tranh đấu này. Ðó là nền triết lý rút ra từ nền đạo lý Ðông Phương. Trước hết là tư tưởng Ðạo Gia, một học phái đã xuất hiện từ thời Xuân Thu Chiến Quốc (từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 3 tr. C.N.) và đã có một ảnh hưởng tinh thần rất mạnh đối với dân tộc Trung Hoa. Ngoài ra, Kim Dung cũng có trực tiếp nêu ra nhiều tư tưởng của Phật Giáo Ðại Thừa đã thạnh hành ở Trung Quốc từ đời nhà Tùy (581-618). Ði sâu vào các chi tiết liên hệ đến các ẩn số chánh trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, chúng ta có thể nhận thấy hai loại dữ kiện:

  1. Trước hết, một số nhơn vật đã được dùng để tượng trưng cho một vài quốc gia đặc biệt trên thế giới hoặc để mô tả một vài chánh khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cận đại.
  2. Ngoài ra, một số sự việc trong hầu hết, nếu không phải là tất cả, các bộ truyện võ hiệp Kim Dung đã diễn tả quan điểm của tác giả về vấn đề tranh đấu chánh trị và một phần quan điểm này dựa vào nền triết lý của Ðạo Gia và của Phật Giáo...”

Cũng qua tác phẩm tưởng như chỉ nói về võ hiệp, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã soi rọi đến tận cùng những hóc hiểm của từng sự kiện được phô diễn, giúp độc giả có thể thấy các ẩn số chánh trị của Kim Dung, qua các câu chuyện lấy lịch sử Trung Quốc làm khung cảnh. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy bằng kiến thức uyên bác đã phác họa qua lịch sử nước này để độc giả có thể từ đó nhận diện rõ nét các cuộc tranh chấp của các triều vua trên lục địa Trung Quốc minh mông lúc nào cũng có tham vọng chinh phục để chiếm ngụ các quốc gia khác, trong đó có lãnh thổ Việt Nam ở phía Nam để đô hộ. Và cũng để từ đó trình bày tư tưởng chánh trị sâu sắc của Giáo sư qua từng sự kiện được Kim Dung đề cập tới, qua từng nhơn vật độc đáo được Kim Dung mô tả, qua những mối tình nồng nàn nhân bản từ lứa tuổi thanh xuân cho đến lớp người trung niên và cao niên, thuộc đủ mọi giai tầng xã hội Trung Hoa cổ thời và cận đại.

Chỉ  đứng trên khía cạnh “tinh thần đại hùng, đại lực và đại từ bi của Phật Giáo đối với sự hòa giải hòa hợp giữa các dân tộc đưa đến một nền hòa bình vững chắc cho loài người”, Giáo sư Huy đã xét qua các cốt truyện của Kim Dung khi nói đến sự hòa giải hòa hợp hoàn toàn bên trong các dân tộc và sự hòa giải hòa hợp giữa các dân tộc, đưa đến một hền hòa bình vững chắc cho loài người, cho rằng nó chỉ có thể thực hiện được khi những người hoạt động chánh trị trên thế giới đều thật sự yêu thương người khác, và có đủ sức chế ngự các dục vọng của mình, để không bị lòng tham quyền lực danh vọng lôi cuốn vào con đường độc đoán và tàn ác.

Ðiển hình dễ thấy là trường hợp Pháp Ðăng Ðại Sư, nguyên là Ðoàn Nam Ðế, đã kiên nhẫn hết mực để lôi Từ Ân Ðại Sư, nguyên là Bang Chủ Thiết Chưởng Bang, về con đường phải... Việc ông thành thật ăn năn và cuối cùng đã được Bà Lưu Anh Cô tha thứ về tội đã sát hại đứa con nhỏ của bà biểu lộ quan niệm của Kim Dung về việc cải hóa những người theo chủ trương hung bạo. Ngoài Bang Chủ Thiết Chưởng Bang, trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, còn nhiều cao thủ võ lâm khác đã hối cải và qui y Phật Pháp, từ bỏ giấc mộng tranh bá đồ vương, chấm dứt lòng thù hận đối với kẻ địch đã tàn hại mình hay thân thuộc mình và ăn năn sám hối về những hành động tàn ác của mình như Mộ Dung Bác, Tiêu Viễn Sơn, Tạ Tốn.

Giáo sư cũng nói thêm là “Người cầm quyền lãnh đạo một dân tộc vốn có nhiều sức mạnh trong tay. Nếu họ dùng sức mạnh đó để mưu đồ mở rộng thế lực hay lấn át dân tộc khác thì chẳng khác nào có sự đại hùng đại lực mà thiếu đại từ bi. Hành động xâm lăng của họ chẳng những có hại cho dân tộc khác mà cuối cùng cũng làm cho chính dân tộc họ cũng bị nhiều hậu quả không tốt. Ngay cả trong trường hợp người lãnh đạo một dân tộc có lý tưởng mà họ cho là đẹp nhưng lại dùng sức mạnh mình có trong tay để cưỡng bách dân tộc mình hay dân tộc khác làm theo ý mình để đạt cái được cho là lý tưởng cao đẹp đó, họ cũng chỉ gây ra sự khổ sở cho nhơn dân”. Ðây hẳn là trường hợp của Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam đương đại.

Sau cùng, trong tư thế khiêm cung của một học giả uyên bác, Giáo sư Huy cho biết: “Khi cố tìm ra các ẩn số chánh trị trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, chúng tôi chỉ muốn nêu ra một khía cạnh đặc biệt của các tác phẩm này. Thật sự thì chúng tôi nghĩ rằng mình chưa tìm ra hết các ẩn số được Kim Dung gói ghém trong đó, vì chúng tôi không được biết trong chi tiết lịch sử cận đại của Trung Quốc và thân thế cùng tiểu sử các nhơn vật chánh trị Trung Quốc quan trọng trong thời kỳ này. Bởi đó, có thể có những nhơn vật được Kim Dung dùng để biểu tượng cho những chánh khách Trung Quốc mà chúng tôi không thấy rõ. Cũng có thể chúng tôi lầm lạc và gán cho Kim Dung một dụng ý mà ông không có về một nhơn vật hay một sự kiện, vì có sự ngẫu nhiên trùng hợp trong cách Kim Dung mô tả nhơn vật hay sự kiện đó với những nhơn vật và sự kiện có thật. Ngoài ra, ta không thể loại bỏ giả thuyết là sự trùng hợp giữa các nhơn vật và sự kiện trong tác phẩm của ông với một số nhơn vật và sự kiện chánh trị có thật phát xuất từ nơi tiềm thức của tác giả chớ không phải từ sự cố ý. Nhưng ngay trong trường hợp này, Kim Dung cũng không phải là thật sự vô tâm, vì ông có nhiều ưu tư, nhiều chủ kiến ăn sâu trong tiềm thức thì tác phẩm ông viết ra mới biểu lộ các ưu tư và chủ kiến đó cho chúng ta thấy. Dầu thế nào thì chúng tôi cũng nghĩ rằng các nhận định của chúng tôi về các ẩn số chánh trị trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung cũng đúng trong nét chánh. Tác phẩm của Kim Dung như con rồng thiêng bay lộn trên không. Nhìn từ dưới đất lên, chúng tôi có thể lầm lộn thấy một đợt mây quanh mình rồng thành cái vảy, cái vi hay trái châu trong miệng rồng, nhưng điều chắc chắn là chúng tôi đã không phải thêm bốn chơn cho con rắn để bảo nó là con rồng...”

Tác phẩm  “Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” đã được cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy viết, đã được in, đã được tái bản nhiều lần, đã được rất nhiều người đọc; từ đó đã được rất nhiều người nhận xét, trong đó Vương Thúy Hoa đã nói: “...Ðọc quyển sách Các Ẩn Số Chính Trị này, tôi không nghĩ là chỉ tìm thú vui tiêu khiển, giải trí qua một cuốn sách đơn sơ, mà trái lại, nó đã cho tôi nhiều bài học về kiến thức. Mỗi một trang lật qua tôi thấy mình như trang bị thêm một mớ vốn liếng hiểu biết...”; và Trần Nguyên / BBT / Tự Do Dân Bản online đã nhận định: “Dụng ý chính là qua quyển sách hấp dẫn dễ đọc này, Giáo sư Huy muốn để lại cho hậu thế một tác phẩm nhằm quảng bá sâu rộng một nền tảng chính trị ích nước lợi dân. Có thể nói tương tự như tác giả truyện bình dân Tây Du Ký kín đáo dùng hình ảnh Tam Tạng, Tôn Ngộ Không đi thỉnh kinh để ca ngợi và phát huy Phật Giáo vào mọi từng lớp quần chúng. Ðiều này rất đúng nếu xem kỹ nội dung tác phẩm sẽ thấy Giáo sư Huy đã đề cập, phân tích và phê bình đến hầu hết tất cả các thể chế chính trị trên thế giới từ xưa đến nay”. Ðặc biệt hơn hết là Nguyễn Hàm, trong một bài viết từ Ðông bắc Mỹ, ngày 9 tháng 6 năm 2009 đã nói gần như quả quyết rằng: “Với phương trình Nguyễn Ngọc Huy gồm ba yếu tố quốc nội, hải ngoại và quốc tế yểm trợ, với lời nhận định về các ẩn số chánh trị của Kim Dung, hình như Người đi trước đã để lại cho chúng ta phần lớn những đáp số của bài toán chánh trị cho Việt Nam. Nguyễn Ngọc Huy xứng đáng là một “Tiêu Phong” của chánh trường Việt Nam cận đại. Ông đã không còn nữa từ gần 20 năm qua. Ước vọng có một Tiêu Phong khác xuất hiện chắc khó có thể đạt được. Chỉ mong ngày nay các chiến hữu, đồng chí của ông ít nhất cũng tạo được một “thực thể Trương Vô Kỵ” để có thể đưa các tổ chức mà cố Giáo Sư đã tốn bao công sức gây dựng lúc trước vượt qua những mất mát nội bộ trong suốt gần thập niên qua và cùng tiến bước trong công cuộc đấu tranh chung. Mong sao người Việt chúng ta cũng ít nhất tạo được một “thực thể chánh trị Vi Tiểu Bảo” để có thể đưa dần dân tộc Việt Nam đi trên đại lộ “dân chủ” và thoát khỏi ách Bắc thuộc “thù trong giặc ngoài”. Hành trang đã có đủ, sao ta mãi phụ lòng người quá cố?”

Tác phẩm kế tiếp được giới thiệu trong buổi Hội Luận là cuốn “Di Cảo Giáo sư Nguyễn Văn Bông”, tác phẩm hầu như đúc kết tư tưởng chánh trị của cố Giáo sư Nguyễn Văn Bông, trước khi Người qua đời năm 1971, và được Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy cho sưu tập và ấn hành năm 1972 tại Sài Gòn.

Là một Thạc sĩ Công pháp hiếm hoi của Việt Nam, là một lãnh tụ hàng đầu của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến, bên cạnh Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Giáo sư Nguyễn Văn Bông đã thách đố với hiểm nguy, thách đố mọi đe dọa sát hại của Cộng sản Việt Nam, tích cực xây dựng sinh hoạt chánh trị đứng đắn cho Miền Nam Việt Nam trước cuồng vọng xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt.

Ðây là tác phẩm bộc lộ khía cạnh triết lý độc đáo của vai trò đối lập trong lãnh vực chánh trị. Theo Giáo sư Nguyễn Văn Bông “nếu triết lý chánh trị là đối lập thì tham gia chánh trị phải mang tính nghệ thuật: nghệ thuật chánh trị; một nghệ thuật đa dạng, uyển chuyển và đòi hỏi hành động trong tinh thần tập thể, trong khuôn khổ tương kính và pháp trị”. Từ đó, Giáo sư thẳng thắn vạch trần xảo thuật đánh lừa của những kẻ “lưu manh chánh trị” muốn đẩy người dân ra khỏi trường chánh trị cho chúng được tự tung tự tác cầm quyền và khống chế các người có trách nhiệm cầm quyền trên lãnh vực chánh trị. Giáo sư đã không ngần ngại viết: “Chánh trị thường có tiếng không tốt. Vì đó mà mọi vấn đề liên quan đến chánh trị đều không tốt cả. Và cũng vì đó mà nhiều người hay phản đối rằng hành vi của mình có tính cách chánh trị. Trong khi đó chánh trị là tất cả, là trọng tâm của sinh hoạt con người. Vấn đề đặt ra là làm sao khêu gợi cho công dân ý thức được sự hiện hữu của cuộc sinh hoạt cộng đồng và tầm quan trọng của chánh trị trong việc chuyển hướng quốc gia”.

Giáo sư đã lên án thái độ phi chánh trị của đa số công dân và những nhà lãnh đạo, trong lúc chính yếu tố chánh trị làm thành sự sống còn của đất nước. Giáo sư đã thẳng thắn nói: “...vì chánh trị và nhơn danh chánh trị người ta quay cuồng trong những trò chơi khốn nạn, ném đá giấu tay, người ta dám có những hành động bán nước hại dân để rồi, dư luận xảo trá, bịp bợm, xôi thịt, bè phái được gắn liền với danh từ chánh trị. Và từ đó, công dân chán ghét chánh trị, cho chánh trị là một địa hạt không liên quan đến mình, trở về cuộc sống riêng tư và chuyên môn, phó mặc sinh hoạt chánh trị cho những ‘anh hùng chuyên môn tán dóc’. Thái độ thụ động và bàng quan nầy là một trở ngại cho công cuộc chống Cộng hiện nay và nếu còn tiếp tục, sẽ có hậu quả không hay cho tương lai của nền dân chủ... Thái độ phi chánh trị là nguyên nhơn của sự suy đồi chánh trị. Rất nhiều chế độ đã bị lật đổ vì đã trốn chánh trị, đã từ khước sự tham gia của công dân. Thay vì giữa chánh quyền và nhơn dân nên có một luồng điện thông cảm và cùng giải quyết các vấn đề, người ta chỉ thấy trong chế độ nầy những diễn văn rườm rà, những danh từ trống rỗng, một tinh thần vô trách nhiệm”.

Từ đó, Giáo sư đã không ngần ngại hỏi: “Sinh hoạt chánh trị tại Việt Nam đã dứt khoát hay chưa, với thái độ phi chánh trị nầy?” Rất tiếc, Giáo sư đã bị bọn Cộng sản Việt Nam sát hại khi câu hỏi chưa được giải đáp. Ngày nay, nó cũng rất cần được giải đáp khi mọi người đang cùng nhau tận lực tiến hành cuộc đấu tranh Dân Chủ Hóa Việt Nam, ở ngay trong lòng quốc nội, và trên khắp các địa bàn sinh hoạt hải ngoại...

Hẹn con thư sau,

Giáo Già


Trách nhiệm cuối đời của một lãnh tụ quốc gia

               Bài viết tưởng niệm cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn. 
 

Lê Quế Lâm 
 

     Tôi bàng hoàng xúc động khi được tin ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa đột ngột qua đời. Một tháng trước đây, trong Tuyển Tập Việt Luận số đầu tiên (Thu/2009) tôi có đề cập đến tác phẩm “Đất Nước Tôi” của ông trong bài viết “Bài học gì từ biến cố 30/4/1975”. Ông cựu thủ tướng nhận xét rằng “Pháp và Đồng Minh (Anh, Hoa Kỳ…) đã thua chiến tranh Đông Dương vì không có chính nghĩa”. Còn chiến tranh Việt Nam 1967-1975, “Miền Nam thua vì VNCH bị bán đứng”. Theo tôi, nhận định đó cho thấy giới lãnh đạo VNCH đã không hiểu rõ đồng minh chí cốt của mình. Lãnh đạo là vị tổng thống VNCH và nhận xét của ông Cẩn chỉ vì cảm tính thù hận HK đã không quyết tâm đánh bại Cộng sản để bảo vệ Quốc gia Việt Nam. Đó là cảm tính chung của phần đông người Việt Quốc gia. Tôi đã nêu ra nhận định này trong những lá thư trao đổi với ông hồi năm 2002-2004. Nay đưa những nhận xét chủ quan của mình lên báo, tôi cảm thấy ray rứt hình như không phải đạo đối với một người mà lần đầu tiên được diện kiến, tôi đã cảm nhận ngay ông là một đàn anh khả kính hết mực nhân hậu và chân tình; một người yêu nước thiết tha

    Chính vì nổi ray rứt ân hận chưa kịp giải bày, tin ông đột ngột ly trần đã gieo cho tôi nổi buồn vô hạn. Tôi cố nén niềm đau, vội viết đôi dòng để tưởng niệm ông, ghi lại những cống hiến của ông đối với dân tộc, và nói lên lòng ngưỡng mộ khi ông đệ nạp lên LHQ hồ sơ thềm lục địa VN rộng tối đa 350 hải lý và khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền và lãnh thổ của VN. Đó là hồ sơ khiếu tố mà người đã khuất để lại giúp các thế hệ trẻ tiếp tục đấu tranh và đoàn kết bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    Năm 1957, sau khi tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, ông Cẩn thuyên chuyển về phục vụ ở Định Tường, phụ tá ông Tỉnh trưởng Nguyễn Trân tổ chức việc huấn luyện cán bộ để tiến hành đấu tranh chính trị với CS. Sau đó ông giữ chức vụ Quận trưởng Quận Cái Bè và Phó Tỉnh trưởng Định Tường. Trong thời gian này, tôi đang học những năm cuối trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Tôi và các bạn học ở Mỹ Tho đã được tham dự cuộc “đấu lý” giữa ông Tỉnh trưởng Nguyễn Trân và 13 cán bộ Trí vận cao cấp CS hồi năm 1958. Sự kiện này được ông Nguyễn Bá Cẩn ghi lại trong hồi ký “Đất Nước Tôi”:     

    Ông Nguyễn Trân làm chính trị chớ không làm hành chánh. Trên cương vị tỉnh trưởng, ông dồn hết nổ lực nghiên cứu chủ nghĩa MácLê, tìm hiểu chủ thuyết cũng như hành động của CS Đệ Tam Quốc tế, và đặc biệt nghiên cứu giải pháp chống Cộng tại VN. Ông Cẩn đổi về Định Tường với tâm niệm không phải để an hưởng đời công chức ngạch A lương cao bổng hậu mà là cùng với hàng hàng lớp lớp thanh niên tuổi thanh xuân “dấn thân” hoạt động cứu nước và dựng nước. Ông Trân và ông Cẩn rất tâm đắc về lý tưởng quốc gia chống Cộng và phương pháp làm việc. Lúc bấy giờ 1957, CS lo chỉnh đốn hàng ngũ vừa huấn luyện cán bộ thông suốt ý đồ chiến lược xâm nhập của BV qua hai tài liệu căn bản “Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc” và “Đường lối Cách mạng Miền Nam”. Đây là lúc mà phía bên ta (VNCH) cũng phải tổ chức huấn luyện cán bộ và bố trí kế hoạch để đập tan âm mưu của CS ngay từ trong trứng nước. Về điểm này thì Trung ương chưa có kế hoạch, mà chỉ miệt mài tổ chức học tập Tố Cộng lan rộng từ trung ương đến địa phương vì đa số nhân dân trong Nam không hiểu CS là chi cả. Nếu MN đã có kế hoạch thích nghi và hữu hiệu để đối phó ngay từ năm 1957 là thời kỳ CS mới vừa khởi sự thực hiện ý đồ xâm lăng thì lịch sử Miền Nam có thể đã đi vào một khúc quanh vẽ vang hơn.

   Chiến lược của CS là tạo mối tương quan giữa cán bộ CS với hàng ngũ nhân dân như Thế Cá Nước. MN mất là vì đã không tìm phương kế hữu hiệu để đối phó. Vấn đề giản dị là nếu bắt cá ra khỏi nước thì cá sẽ chết ngay. Ông Cẩn được ông Nguyễn Trân giao phó trách vụ tuyển mộ và huấn luyện cán bộ cơ sở để tiêu diệt hạ tầng cơ sở CS tại Định Tường. Được chỉ thị của tỉnh trưởng, ông Cẩn thân hành đi công tác trọn một tháng tại các tỉnh thuộc Liên khu 5 cũ gồm các tỉnh Nam Ngãi Bình Phú để tuyển mộ 300 cựu cán bộ CS của Liên khu 5, mang họ về Mỹ Tho để huấn luyện và trang bị cho họ lý tưởng quốc gia, để rồi dùng số cựu cán bộ CS để tiêu diệt hạ tầng cơ sở CS. Chương trình huấn luyện là một tháng, tài liệu học tập do ông Cẩn đích thân soạn thảo và thuyết trình gồm một loạt bài vỡ giải thích sự sai lầm của chủ nghĩa CS.

   Song song với chương trình đạo tạo huấn luyện cán bộ do ông Cẩn phụ trách, tỉnh còn có chánh sách mới về tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Mỹ Tho và Gò công. Chính sách này nặng về giáo dục và cải huấn để tù nhân nhận chân đâu là chính nghĩa. Nhờ đó, họ bắt đầu hối cải và cung khai tất cả cơ sở hoạt động của họ. Nhờ vậy mà chính quyền đã bắt được hàng chục cán bộ cao cấp trong tỉnh, đặc biệt là trọn ổ 13 cán bộ cao cấp đặc trách trí vận thuộc Thành ủy CS Sàigòn-Chợlớn. Họ đang sống hợp pháp và hoạt động trong vùng kiểm soát của quốc gia. Trong đó có Kỹ sư Nguyễn văn Hiếu và vợ là Dược sĩ Mã thị Chu, Giám đốc Việt Nam Ngân hàng Nguyễn văn Diệp, Luật sư Lê hữu Phước Tòa Thượng thẩm Sàigòn, Ký giả Tô văn Mạnh ký giả Nhật báo Sàigòn và một số ký giả khác.

    Ông Trân đang say mê nghiên cứu lý thuyết CS để tìm cách chế ngự CS, bây giờ lại có trong tay một số cán bộ trí thức cao cấp của CS. Ông nẩy ra ý kiến “Đấu Lý” với họ để giúp người dân Định Tường và nhân dân VN thấy được những sai lầm của chủ nghĩa CS. Ông Trân ngõ ý với họ “tại sao giữa trí thức với nhau chưa kịp đối thoại mà lại thù nghịch và chém giết lẫn nhau”. Ông thách thức nếu tranh luận mà CS phải thì ông sẽ theo CS. Còn nếu Quốc gia phải thì họ phải bỏ hàng ngũ CS về phục vụ quốc gia. Sau khi họ chấp thuận đề nghị đấu lý, ông Trân chỉ định ông Cẩn vào Trung Tâm Cải Huấn để dàn xếp quy luật đấu trí và qui định những lãnh vực tranh luận. Một bên là 13 cán bộ CS một bên là ông Trân. Các cán bộ Trí vận cho biết họ không có cơ hội nghiên cứu nhiều về lý thuyết CS mà chỉ đi theo CS để đánh đuổi thực dân Pháp. Sau cùng hai bên đồng ý tranh luận vào bốn đề tài: Cương lĩnh Mặt trận Tổ Quốc, Đưòng lối Cách mạng Miền Nam, Tuyên Ngôn CS của Marx và Đường lối chính sách và huấn thị của Lenin.

    Ông Cẩn rất vui mừng vì tốt nghiệp chưa đầy một năm mà đã có cơ hội bằng vàng đối thoại với các cán bộ cao cấp CS, thảo luận với họ về một số đề tài liên quan đến lãnh vực đấu tranh chính trị mà ông từng ấp ủ trong lòng. Cuộc đấu lý được tổ chức ngày 14/6/1958 tại rạp hát Viễn Trường, Chợ Cũ Mỹ Tho. Khán thính giả gồm một số đông đại diện báo chí ở Sàigòn, thân hào nhân sĩ cùng viên chức các cấp và đoàn thể nhân dân và học sinh ở Mỹ Tho. Ngoài ra, Đại tá Tư lịnh Quân khu 5 và một số tỉnh trưởng miền Tây cũng đến tham dự và quan sát. Cuộc tranh luận diễn ra rất sôi nổi, sắp xếp công bằng, hai bên được tự do trình bày mọi lý luận của mình. Cuộc thảo luận kéo dài 6 giờ liền. Đến 2 giờ chiều, buổi đấu lý kết thúc, ký giả Tô văn Mạnh đứng lên nhìn nhận đi theo CS là sai lầm và tuyên bố xin ly khai đảng. Ông Nguyễn văn Diệp xin được vào phía sau hội trường hội ý với anh em để có lập trường chung. Sau khi hội ý, ký giả Triệu thương Thế đại diện 12 cán bộ CS tuyên bố chấm dứt mọi liên hệ với CS. Trong hồi ký tựa đề “Công và Tội”, ông Nguyễn Trân cho biết ông đã xin phép Bộ Nội vụ và Tổng thống cùng sự thỏa hiệp của ông Cố vấn Ngô đình Nhu để tổ chức đấu lý. Sau cuộc đấu lý, theo đề nghị của ông, Bộ Nội Vụ chấp nhận phóng thích 13 cán bộ Trí vận CS.

     Năm 1966, tôi cùng một số anh em khóa sinh khóa 22 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, được điều động về Long An yểm trợ cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng hòa. Lúc bấy giờ ông Cẩn là Phó Tỉnh trưởng, đã thuyết trình cho chúng tôi về tầm quan trọng của cuộc bầu cử: tạo dựng các cơ sở hiến định cho đất nước. Đó là nền móng bảo đảm các quyền tự do dân chủ của người dân và cũng là mục tiêu tối hậu của cuộc chiến tự vệ chống hiểm họa độc tài CS.

     Năm 1967 tôi được chuyển về cơ quan Nghiên cứu tài liệu do MACV thiết lập để nghiên cứu về chiến tranh VN. Còn ông Cẩn dấn thân vào con đường chính trị, đắc cử dân biểu trở thành Phó Chủ tịch Hạ Viện Pháp nhiệm I (1967-1971). Ông cộng tác chặt chẽ với ông Trần Quốc Bửu, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao Công VN, lãnh đạo một lực lượng gần nửa triệu nông dân và công nhân. Ông Bửu từng tham gia chống Pháp bị tù đày ở Hỏa Lò và Côn Đảo. Trong thời điểm này, cuộc chiến VN sắp sửa chuyển sang một bước ngoặc mới: Cuộc hòa đàm giữa HK và CSVN diễn ra ở Paris, sau đó HK rút quân, Hiệp định hòa bình ra đời, đấu trường quân sự chuyển sang đấu tranh chính trị. Trong Hồi ký Đất Nước Tôi, ông Cẩn ghi lại miền Nam đã đối phó ra sao trong giai đoạn này?

    Lúc bấy giờ chính giới Mỹ muốn VNCH có một chính phủ dân sự để đấu tranh chính trị với CS. Do đó tin đồn lan rộng khắp nơi là HK đang ủng hộ Giáo sư Nguyễn văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh ở chức vụ thủ tướng. Người Mỹ cũng dự trù những gì có thể giúp VNCH giành chiến thắng trong giải pháp “mỗi người dân một lá phiếu” khi có cuộc bầu cử có sự tham dự của MTGPMN. Trong một buổi tiếp tân Ngoại giao đoàn, một viên chức Tòa Đại sứ HK đề nghị ông Cẩn giúp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, lãnh tụ Tân Đại Việt thành lập một tân chính đảng. Lúc đó Giáo sư Huy đang thai nghén Phong trào Quốc gia Cấp tiến.

   Ông Cẩn nhận thấy PTQGCT chỉ là một đảng cán bộ, chú trọng thành phần sĩ quan và công chức trung và cao cấp. Phong trào kết nạp đoàn viên trong số sinh viên Học viện QGHC, học trò của Giáo sư Bông và Huy. Đa số sinh viên tốt nghiệp được bổ đi làm Phó Quận, nhờ đó mà tổ chức hy vọng nắm được xã ấp. Ông Cẩn nói với Giáo sư Huy: Phong trào chưa có gốc rễ trong quần chúng, chưa phải là một đảng quần chúng để có thể dành phiếu thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử tương lai, vì thế ông tham gia PTQGCT chẳng đem lại lợi lộc gì. Ngược lại “nếu tôi tổ chức đảng quần chúng sâu rộng trong môi trường nông thôn và thành thị để sau này khi cần đấu tranh chính trị với CS chúng tôi sẽ liên minh với PTQGCT là đảng cán bộ thì khí thế mạnh hơn, vừa có cán bộ lãnh đạo để cầm quyền, vừa có lực lượng hùng hậu trong nhân dân”.

    Ông Cẩn trở về hợp tác với Tổng Liên Đoàn Lao Công VN, được ông Trần Quốc Bửu giao trọng trách thành lập Đảng Công Nông Việt Nam. Đảng CNVN là vũ khí chính trị của TLĐLCVN và TLĐLC là nền móng cơ sở của đảng CNVN. Ông Cẩn là Tổng Bí Thư đảng, ông Bửu là Chủ tịch đảng kiêm chủ tịch Tổng Liên đoàn.

    Giữa năm 1971, ông Cẩn tái đắc cử dân biểu và được bầu làm Chủ tịch Hạ Viện. TT Thiệu tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai (độc diễn). Sáu tháng sau vào đầu năm 1972, TT Thiệu có ý định giúp TT Khiêm thành lập một đảng cầm quyền, sau này đảng này sẽ đưa TT Khiêm ra tranh cử tổng thống năm 1975. Đây là kế hoạch chuẩn bị của VNCH trong tư thế sẳn sàng tham dự một cuộc tổng tuyển cử rồi đây trước sau gì cũng phải được tổ chức trong khuôn khổ của hiệp định tái lập hòa bình cho VN. Đích thân TT Khiêm và ông Trần Quốc Bửu đến yêu cầu ông Cẩn tiến hành ngay việc thành lập đảng cầm quyền, còn họ có bổn phận yểm trợ tối đa TT Thiệu cho hết nhiệm kỳ.

   Hai tháng sau TT Thiệu đổi ý, ông chỉ thị Phụ tá Nguyễn văn Ngân thành lập đảng cầm quyền với danh xưng Dân chủ do ông lãnh đạo còn Tổng Thư ký là Bác sĩ Trần Minh Tùng. Ông Ngân cho biết TT Thiệu mời TT Khiêm và chủ tịch Lưõng viện Quốc hội vào Chủ tịch đoàn của đảng Dân chủ. Có lẽ bất mãn trước thái độ tham quyền cố vị của TT Thiệu mà Luật sư Nguyễn văn Huyền Chủ tịch Thượng Viện thay đổi lập trường từ hợp tác thân thiết với chính quyền trở thành bất hợp tác và chuyển sang đối lập, đứng về lực lượng thứ ba hòa giải dân tộc.

   Giữa năm 1973 phân bộ lập pháp đảng Dân chủ ủng hộ liên danh Bạch Tượng do Ngoại trưởng Trần văn Lắm làm thụ ủy ra tranh cử và đã thắng cử. Phe thân chánh quyền chiếm đa số 2/3 tại Thượng Viện. Khu bộ lập pháp đảng Dân chủ tại Thượng viện nhân dịp này bầu Nghị sĩ Lắm làm Chủ tịch Thượng viện thay thế Nghị sĩ Nguyễn văn Huyền. Với kết quả này TT Thiệu tiến thêm một bước nữa là Tu chính Hiến pháp để tái tranh cử nhiệm kỳ 3, trái với ý định trước kia là dọn đường cho TT Khiêm tiếp nối lãnh đạo MN với cương vị tổng thống. Trong lúc đất nước lâm nguy, họa mất nước gần kề, TT Thiệu chỉ nghĩ đến củng cố quyển lực, chuẩn bị tiếp tục lãnh đạo VNCH sau cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào tháng 10/1975, lúc đó Thủ tướng Khiêm và Chủ tịch Hạ viện Nguyễn Bá Cẩn nắm chức vụ Phó tổng thống và thủ tướng tùy sự lựa chọn của họ.   

    Đảng Dân chủ cầm quyền của TT Thiệu thành lập các phân bộ đảng ở các cấp chính quyền và các cơ quan hiến định Quốc hội, Giám sát viện, Tối cao Pháp viện. Nhưng ông Cẩn nhận xét đảng không hề tổ chức đại hội để chung quyết đường lối và chương trình cùng kế hoạch dài hạn hàng năm. Đảng cũng không hề họp Ban Chấp hành Trung ương hay Chủ tọa đoàn như các đảng khác. TT Thiệu điều khiển đảng Dân chủ như một đơn vị quân đội hoặc một tổ chức hành chánh. Vì thế lục đục trong nội bộ ngày càng trầm trọng và quyết liệt. Đại sứ Nguyễn văn Kiểu bào huynh TT Thiệu tố cáo TT Khiêm đưa tài liệu cho Đại Việt và Linh mục Trần Hữu Thanh tố cáo TT Thiệu tham nhũng, chiếm công sản trên Cao nguyên. Nhóm dân biểu thân chính (phe cánh Thiệu) kiến nghị mời TT Khiêm ra điều trần trước khoáng đại Hạ viện, lên án thủ tướng tham nhũng để có lý do bãi nhiệm. Kế hoạch bất thành vì không được sự tiếp tay của ông Cẩn Chủ tịch Hạ Viện. Ông Kiểu dự định dùng tiền bạc mua chuộc các dân biểu để bầu dân biểu Nhan Minh Trang thay thế ông Cẩn làm chủ tịch Hạ Viện. 

    Trong lúc nội bộ xâu xé tranh giành quyền lực, HK cắt giảm quân viện, TT Thiệu ra lịnh rút bỏ Vùng I và II. Ông Nguyễn bá Cẩn được mời thành lập nội các khi Quân đoàn 4 CSBV gồm các Sư đoàn 6, SĐ7 và SĐ 341 tấn công Xuân Lộc. Mục tiêu ưu tiên của tân chính phủ là đại đoàn kết quốc gia để ổn định hậu phương và yểm trợ tiền tuyến nên thành phần sẽ phải bao gồm một số đoàn thể, tôn giáo và chính trị có thực lực…Nhưng hầu như tất cả lại đối lập mạnh mẽ với TT Thiệu và TT Khiêm. Thuyết phục họ tham gia là một việc làm khó khăn. Trong Nội các có ông Nguyễn văn Diệp, là một trong 13 cán bộ Trí vận tham gia cuộc đấu lý năm 1958 ở Mỹ Tho, ông Cẩn kỳ vọng có thể nhờ ông Diệp tiếp tay móc nối với MTGPMN. Ông Cẩn mời giáo sư Huy làm Đệ nhất phó thủ tướng đặc trách chính trị và hòa đàm với kỳ vọng “nếu quân dân mình cầm cự được sáu tháng thì chính phủ tôi sẽ từ chức, chính phủ mới với lập trường chính trị nhân nhượng trong việc thành lập một chính phủ liên hiệp với MTGPMN có thể được phía bên kia chấp nhận thương thuyết”.

   Khi HĐ Paris ra đời, VNCH trong thế mạnh, TT Thiệu cương quyết với lập trường bốn không, tiếp tục chiến đấu đến cùng. Nay miền Nam tự do suy yếu, ông Cẩn đứng ra nhận lãnh trách nhiệm với hy vọng mong manh “được phía bên kia chấp nhận thương thuyết”. MTGPMN khẳng định ông Thiệu là nhân tố cản trở hòa bình, ông ta phải ra đi và họ chỉ nói chuyện với ông Dương văn Minh. TT Thiệu từ chức và TT Hương bằng lòng nhường chỗ cho tướng Dương văn Minh nhưng thắc mắc không biết phải dựa vào điều nào của Hiến pháp vì ông không muốn xé bỏ Hiến pháp. Ông Cẩn sau khi đệ đơn từ chức và được TT Hương chấp nhận đã cố vấn ông Hương: “Theo truyền thống dân chủ cũng như theo thủ tục đã được áp dụng trên thực tế tại các nước dân chủ lâu đời, mỗi khi cần phải có những quyết định không được dự trù trong Hiến pháp để cứu đất nước đang bị lâm nguy, họ thường giao trách nhiệm nặng nề này cho Quốc hội. Vì Quốc hội là một cơ quan bao gồm hàng trăm dân cử và được chấp nhận là quyền uy tối cao của đất nước. Vậy tôi đề nghị Tổng thống dành cho Quốc hội lưỡng viện quyết định tối hậu”. Quốc hội VNCH đã biểu quyết chấp nhận ông Minh làm tổng thống thay thế ông Hương.

   Ông Nguyễn Bá Cẩn là vị thủ tướng hợp hiến hợp pháp cuối cùng của Quốc Gia Việt Nam mà vị thủ tướng tiên khởi là cựu hoàng Bảo Đại. Theo đúng pháp lý quốc tế do Đồng minh qui định sau khi kết thúc Thế chiến thứ hai, cựu hoàng Bảo Đại đã tranh thủ được nền độc lập và thống nhất quốc gia thông qua con đường thương lượng hòa bình với Pháp. Ngày 8/3/1949 tại Dinh tổng thống Pháp (điện Elysée) Bảo Đại và tổng thống Vincent Auriol ký Hiệp ước Elysée. Chính phủ Pháp chính thức công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập thống nhất thuộc khối Liên Hiệp Pháp, có chủ quyền ngoại giao và nội trị, có quân đội và tư pháp riêng. Quốc gia Việt Nam chính thức ra đời ngày 1/7/1949 và chính phủ quốc gia thống nhất đầu tiên do cựu hoàng Bảo Đại đích thân điều khiển.

     Tháng 6/1954 khi đất nước sắp bị chia đôi, Quốc trưởng Bảo Đại đã bổ nhiệm ông Ngô đình Diệm làm thủ tướng được toàn quyền hành động để bảo vệ quốc gia. Từ               1955 miền Nam Việt Nam trở thành Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1975, đất nước lâm nguy, Quốc hội VNCH chấp nhận ông Dương văn Minh đảm nhận trọng trách cuối cùng để cứu nguy đất nước. Ông là lãnh tụ Lực lượng thứ ba chủ trương hòa giải hòa họp dân tộc theo tinh thần HĐ Paris 1973. Thiện ý của ông bị CS phản bội, ông ra lịnh cho binh sĩ VNCH buông súng để đất nước thống nhất.

     Gần ba mươi năm sau, vào giữa năm 2002, cựu TT Nguyễn Bá Cẩn cho phổ biến trên báo chí một phần trong quyển hồi ký lịch sử Đất Nước Tôi mà ông vừa viết xong với đề tựa: Đâu là sự thật -Tại sao Miền Nam Thua và VNCH bị bán đứng. Đọc xong bài viết trên, tôi có góp ý với ông trong lá thư đề ngày 4/9/2002. Ông Cẩn sốt sắng trả lời và còn “khuyến khích những ai từng suy nghiệm thấy cái oan trái, hảy cố mà viết để nói lên sự thật” vì “MN đã thua cuộc vì quá nhiều nghiệt ngã”. Ông nhận xét “Ra hải ngoại, người ưu tư để hi sinh thì ít, mà mưu mẹo vì danh vì lợi thì tràn đồng, vàng thau lẫn lộn, không biết thực hư, rất khó mà tìm người để tâm sự. Vì cộng đồng mình quá phân hóa, chống Cộng thì chỉ bằng mồm nhưng choảng nhau còn hơn là thù nghịch”. 

    Từ đó tôi đã liên lạc với ông để nói lên những oan trái và những sự thật lịch sử. Năm 2005 ông đến Úc, dù rất bận rộn song ông đã ưu ái dành cho tôi một buổi sáng để hầu chuyện với ông về đất nước tại nhà một thân quyến của ông ở Cabramatta. Tôi còn nhớ ông căn dặn: căn nhà lầu có cây liễu lớn ở phía trước. Nhân dịp này, tôi hỏi thăm ông Ngô Quang Phước (bào huynh cố Tr/tướng Trưởng) và cựu đại tá Trần văn Nguyên, là chánh văn phòng và võ phòng của ông. Đây là yêu cầu của ba anh Châu (bạn của tôi) muốn biết tin tức hai người bạn cũ. Nghe tôi hỏi, ông nói ngay: Nghe anh nhắc hai ông ấy, tôi rất bùi ngùi xúc động, một ông đã chết ở Mỹ, một ông từ Mỹ về thăm quê hương và chết ở VN. Ông Phước là Bí thư Chủ tịch Quốc hội từ thời ông Trương Vĩnh Lễ 1956. Đại tá Nguyên là Chánh võ phòng Hạ viện từ thời ông Nguyễn bá Lương 1967. Cả hai đều được ông Cẩn tiếp tục tin dùng cho đến ngày cuối cùng.

     Ba thập niên sau ngày MN tự do ngưng chiến đấu, đất nước thống nhất, Tổ quốc lại bị đe dọa vì mưu đồ bành trướng của kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc. Nhà nước CSVN đã bình thường hóa bang giao với HK và tái lập bang giao với TC. Giới lãnh đạo ở Hà Nội phân vân giữa hai con đường: hợp tác với Mỹ để phát triển và canh tân hóa đất nước như TC đã từng làm trong hơn hai thập niên qua...Nhưng lại sợ mất đảng. Còn nếu tiếp tục hợp tác toàn diện với TC để duy trì quyền độc tôn lãnh đạo của đảng CS thì bị đàn anh phương Bắc luôn chèn ép, đòi hỏi VN phải nhượng bộ quá nhiều. Trong tình thế tấn thối lưỡng nan, cựu thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn giờ đây là một lão tướng, nêu lên vấn đề trọng đại của toàn thể dân tộc không phân biệt Quốc gia hay Cộng sản là phải đoàn kết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, biên cương và lãnh hải do tiền nhân đã đổ biết bao xương máu mới có được.

   Ngày 11/5 vừa qua ông Cẩn đã thay mặt nhân dân VN đệ trình LHQ hồ sơ thềm lục địa VN, sau khi Nhà nước CSVN cũng đã đệ trình văn bản của họ. Sở dĩ ông phải làm như vậy vì tham vọng bành trướng ở Biển Đông của TC. Chúng đã vẻ bản đồ, tuyên bố chủ quyền 90% biển Đông kéo dài đến Mã Lai, trong đó có các nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bao trùm các vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý mà luật Biển của LHQ dành cho các nước ven biển Đông trong đó có VN. Còn Nhà nước CSVN từ khi tái lập bang giao với Bắc Kinh hồi giữa thập niên trước, họ đã nhường cho TC quá nhiều đất liền và biển cả qua hai hiệp ước ký hồi cuối năm 1999 và 2000. Vì thế trong hồ sơ thềm lục địa do Nhà nước CSVN đệ nạp LHQ, trong vịnh Bắc Bộ, họ không vẻ lằn ranh thềm lục địa trên hải đồ mà chỉ tuyên bố một cách tổng quát và ngầm hiểu lãnh hải của VN phù họp với những gì trong hiệp định biên giới lãnh hải trong đó CSVN đã nhượng cho TC khoảng 11 ngàn cây số vuông.

    Sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký Hồ sơ thềm lục địa VN cho LHQ, trong cuộc phỏng vấn của Đài Truyền hình Việt Nam ở Nam Cali, ông Cẩn cho biết ông đã dựa vào hai yếu tố pháp lý để nhân danh VN đệ trình Hồ sơ thềm lục địa VN cho LHQ. Trước hết là tính cách pháp lý liên tục của VNCH mà tiền thân là Quốc gia Việt Nam. Quốc gia này đã được Pháp trao trả độc lập bằng Hiệp ước Elysée ngày 8/3/1949. VN là một quốc gia độc lập và thống nhất kéo dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Quốc gia VN đã được bốn trong số năm Thành viên Thường trực Hội đồng Bảo An LHQ thừa nhận (Pháp Mỹ, Anh và Trung Hoa Quốc Gia). Năm 1954, các cường quốc (Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô và Trung Cộng) chia đôi VN để bảo vệ hòa bình thế giới. Trong khi chờ đợi một cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, chính quyền CS Miền Bắc lại mở cuộc xâm lăng Miền Nam. CSVN đã ký HĐ Paris 1973 với HK cam kết sẽ tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân MNVN...Nhưng sau đó họ xé bỏ HĐ Paris thôn tính MN, đặt cả nước dưới quĩ đạo của Cộng Sản Liên Xô. Ông Cẩn kết luận: việc xâm lăng là rõ rệt, việc thôn tính MNVN là bất hợp pháp. Hành động đó không thể xóa bỏ tư cách pháp nhân của VNCH.

    Ông Cẩn xác nhận đề cập tư cách pháp nhân của VNCH không phải đòi hỏi làm sống lại nhà nước VNCH. Ông nhân danh toàn thể dân tộc VN, một dân tộc đang bị cai trị, bị áp bức, bị đe dọa bởi cường quyền. Ông viện dẫn điều 73 của Hiến chương LHQ, nói rằng các nước thuộc LHQ phải chú ý và bênh vực quyền lợi của các dân tộc bị trị, bị chèn ép, áp bức. Và quyết nghị 3 của Luật Biển cũng xác nhận áp dụng điều 73 của Hiến chương LHQ, xác định rõ khi cứu xét hồ sơ về Luật Biển thì tất cả các nước phải chú ý, để bênh vực các nước bị yếu kém. Hồ sơ thềm lục địa VN do ông Cẩn đệ nạp chỉ đòi LHQ xác nhận những quyền lợi chính đáng của dân tộc VN về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa từ 200 đến 350 hải lý như Luật Biển qui định.  

    So với Hồ sơ thềm lục địa VN do Nhà nước CSVN đệ nạp thì hồ sơ của VNCH khẳng định chủ quyền quốc gia trên Hoàng Sa và Trường Sa và giành tối đa 350 hải lý tính từ đường cơ sở, công khai minh định bằng lời văn và xác định bằng hải đồ cùng hệ tọa độ kinh vĩ độ rõ rệt và chính xác. 
 
 

   Ông Cẩn giải bày việc ông làm có thể không mang lại kết quả như mong muốn của những người yêu nước, nhưng ít nhất nó cũng khẳng định ý chí sắt đá của con dân VN, noi gương tiền nhân quyết tâm không để ngoại bang xâm chiếm một tất đất, một tất biển của Tổ quốc. Đây là trách nhiệm của giới lãnh đạo CSVN. Điều 1 của HĐ Paris 1973 đã ghi rõ: HK và các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước VN như HĐ Genève năm 1954 về VN đã công nhận. Và điều 7 của bản Định ước Hội nghị Quốc tế về VN ký ngày 2/3/1973 trước sự chứng kiến của ông TTK/LHQ ghi rõ: a) Trong trường họp xảy ra sự vi phạm hiệp định, đe dọa hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam hoặc quyền tự quyết của nhân dân miền Nam VN, các bên ký kết hiệp định mỗi bên sẽ tự mình hoặc bằng hành động thống nhất, trao đổi ý kiến với các bên khác ký kết định ước này để xác định những biện pháp cần thiết để giải quyết. b) Hội nghị quốc tế về VN sẽ được họp lại sau khi Chính phủ HK và Chính phủ VNDCCH, thay mặt các bên ký hiệp định cùng yêu cầu hoặc khi có sáu hoặc hơn sáu bên ký kết hiệp định này yêu cầu.

    HK, TC và CSVN đều ký tên vào HĐ Genève 1954, HĐ Paris và Định ước của Hội nghị Quốc tế về VN năm 1973. Nhưng ngay năm sau, TC đã dùng vũ lực đánh chiếm đảo Hoàng Sa của VNCH. Năm 1988 chúng tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm đảo Trường Sa của Cộng hòa XHCNVN. Và ngày nay họ tuyên bố chủ quyền trên biển Đông, rõ ràng sự toàn vẹn lãnh thổ của VN đã bị TC vi phạm một cách trắng trợn. Nhân cơ hội LHQ cứu xét Hồ sơ thềm lục địa của các nước, nhân danh VNCH, ông Nguyễn bá Cẩn đã đệ nạp hồ sơ của VN. Dù ngày nay hai miền đất nước đã thống nhất, Miền Nam Tự do vẫn tiếp tục làm tròn nghĩa vụ của mình khi đã đặt bút ký vào bản hiệp định bảo vệ Tổ quốc. Còn phần CSVN, liệu họ có yêu cầu TC trao đổi ý kiến với họ để tìm biện pháp giải quyết các quyền lợi của dân tộc hay hay không? Nếu không, ít nhất họ cũng phải lên tiếng yêu cầu HK cùng với VN xin triệu tập trở lại hội nghị quốc tế về VN để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn của VN. Về phần HK, họ đã sẳn sàng làm điều đó Tháng 6/2007, trong cuộc họp báo chung với TT Bush tại Tòa Bạch Ốc, Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng tuyên bố “TT Mỹ tái xác nhận cam kết của HK là giúp VN bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ”.

    Trước năm 1975, hoàn cảnh lịch sử không cho phép VNCH thống nhất đất nước. Tuy nhiên hành động ngưng chiến đấu cũng đã góp phần thống nhất non sông. Nay sự toàn vẹn lãnh thổ bị đe dọa, lão tướng Nguyễn bá Cẩn lại phải ra quân. Thiết lập hồ sơ thềm lục địa là vấn đề đại sự quốc gia. Nhưng gánh nặng đó lại đặt lên vai một ông già 80 tuổi chưa hoàn toàn bình phục sau khi mổ tim. Ngoài hồ sơ kỹ thuật còn có hồ sơ pháp lý cần phải vận động tối đa tim óc. Chính vì sự lao tâm lao lực quá độ mà ông đã gục ngã vì nghĩa vụ bảo tồn cương thổ của tổ tiên. Khi viết những dòng tưởng niệm này, các chiến hữu đang phủ lên quan tài ông lá cờ tổ quốc. Đó là vinh dự tột cùng của một người vị quốc vong thân. Tôi không còn lời lẽ gì để nói, chỉ còn cúi đầu kính phục.

   Người xưa có nói “Cái quan định luận”, chờ khi quan tài đã đậy nắp, mới thấy được giá trị một con người. Giáo sư Nguyễn văn Bông đã hi sinh thê thảm tại Sàigòn năm 1971 khi được đề cử thành lập chính phủ dân sự. Giáo sư Nguyễn ngọc Huy ra đi cũng vì làm việc quá độ để chuẩn bị Đại hội Kỳ I của Liên Minh Dân chủ VN khai mạc vào ngày 2/8/1990. Ông từ HK đến Paris và qua đời tại đây bốn ngày trước khi đến Hòa Lan khai mạc đại hội. Nay đến lượt cựu thủ tướng Nguyễn bá Cẩn ra đi. Họ đã chiến đấu cho đất nước đến cuối cuộc đời. Đó là ba nhân vật mà HK tin tưởng có thể mang lại những gì tốt đẹp nhất cho VN sau khi người Mỹ chấm dứt sự can dự ở đây. Phải chăng đó là cái nghiệt ngã, oan trái lịch sử của dân tộc ta?


Nhớ Ơn Người Lính Việt Nam Công Hoà

                        (Kính tặng các chiến hữu nhân ngày 19/6)

Lê Quế Lâm

   QLVNCH là danh xưng cuối cùng của Quân đội VNCH mà tiền thân là Quân đội Quốc gia Việt Nam. Trước tiên tôi xin trình bày danh xưng QLVNCH ra đời trong bối cảnh nào? Và vai trò lịch sử của người chiến sĩ Quốc gia đối với đất nước.

   Từ đầu năm 1965, chiến tranh Việt Nam bước vào một khúc quanh quan trọng. Chính quyền CS miền Bắc sau khi đưa nhiều trung đoàn chủ lực vào miền Nam, Cộng quân bắt đầu mở những trận đánh lớn. Sáng sớm ngày 7/2/1965 họ mở cuộc pháo kích dữ dội vào căn cứ trực thăng và trại cố vấn Mỹ gần phi trường Pleiku làm 8 binh sĩ chết và 108 bị thương. Đây là trận tấn công lớn nhất của VC từ trước đến nay vào một lực lượng yểm trợ của HK ở miền Nam VN đúng vào lúc TT Liên Xô Kosygin viếng thăm Hànội. Lúc bấy giờ, McGeorge Bundy, Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Hoa Kỳ Johnson đang có mặt tại Sàigòn. Bundy tức tốc yêu cầu TT Johnson có những biện pháp trả đũa tức khắc. Ông coi đây là lý do để mở đầu chiến dịch dội bom BV. Ba ngày sau, đặc công đặt chất nổ phá hoại cư xá Mỹ ở Qui Nhơn làm 23 binh sĩ Mỹ tử thương. Các cuộc không tập BV lại tái diễn…

   Ngày 27/2/1965, Bộ Ngoại giao HK công bố Bạch thư tố cáo chính quyền Hà Nội đã phát động cuộc chiến xâm lược miền Nam VN. Hành động này không những vi phạm thô bạo Hiến chương Liên Hiệp Quốc mà còn vi phạm thỏa hiệp Genève 1954 và 1962, trong đó có BV ký kết. Nó còn phá vỡ hòa bình ở Đông Nam Á và đe dọa nặng nề nền tự do và an ninh của miền Nam VN. Nhân dân MNVN quyết tâm chống lại sự đe dọa này và do yêu cầu của họ, HK sẽ đứng bên cạnh nhân dân MN trong cuộc chiến đấu bảo vệ sự sống còn của họ. Bạch thư khẳng định là HK không mưu tìm lãnh thổ, thiết lập căn cứ quân sự hoặc giành địa vị ưu thế ở VN. Nhưng HK chấp nhận đương đầu với mọi hình thức xâm lược. Một khi hòa bình đã được tái lập, HK cam kết sẽ giảm ngay mọi sự can thiệp quân sự ở MNVN….Nhưng HK không bỏ rơi bạn bè trong cuộc chiến đấu bảo vệ tự do. Giờ đây, sự lựa chọn là do chính quyền Hà Nội quyết định: hòa bình hoặc tiếp tục con đường xung đột tai hại. (1)

   Ngày 8/3/1965, hai Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến HK đổ bộ lên Đà Nẳng. Đây là những đơn vị chiến đấu đầu tiên của HK đến VN. Trước khi nhảy vào vòng chiến, HK xúc tiến việc ổn định tình hình chính trị miền Nam VN. Nhờ đó những tranh chấp nội bộ kéo dài từ sau đảo chính TT Ngô Đình Diệm (1/11/1963) đã chấm dứt khi nhóm tướng trẻ áp lực đẩy tướng Nguyễn Khánh sang Pháp lưu vong. Tháng 5/1965, nhân cuộc khủng hoảng chính trị giữa Thủ tướng Phan Huy Quát và Quốc trưởng Phan Khắc Sửu về việc bổ nhiệm và giải nhiệm các thành viên nội các, các tướng lãnh buộc chính phủ dân sự từ chức để Quân đội đứng ra lãnh đạo đất nước.

    Ngày 19/6/1965, Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia thành lập Nội các Chiến tranh và chọn ngày 19/6 làm Ngày QLVNCH. Từ đây, Quân đội VNCH sẽ hợp hợp với Quân đội các nước Đồng minh như HK, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Đại Hàn, Thái Lan và Phi Luật Tân trong công cuộc chống CS xâm lược, bảo vệ miền Nam tự do, trong đó HK đóng vai trò chủ lực. Một tháng trước đó, trong diễn văn đọc tại Đại học John Hopkins (7/4/1965) TT Johnson cho biết HK sẳn sàng thương lượng với các chính phủ liên hệ để kết thúc chiến tranh VN bằng một hiệp định hòa bình, dựa trên những hiệp ước cũ hoặc được bổ túc thêm bằng những hiệp ước mới. 

    Để đạt mục tiêu trên, HK dùng hai áp lực: không tập BV và tăng cường lực lượng vào MNVN. Từ cuối năm 1966, HK gia tăng các cuộc không tập liên tiếp và dữ dội nhằm vào các mục tiêu quân sự ở khu vực ngoại thành Hà Nội. Ông Hồ Chí Minh phải chấp nhận đàm phán với Mỹ. Ngày 21/1/1967, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động VN (CSVN) ban hành Nghị quyết 13 mở ra giai đoạn đấu tranh ngoại giao kết hợp với đấu tranh quân sự và chính trị. Ngày 7/2/1967, TT Johnson chính thức gởi đến Chủ tịch HCM lời đề nghị: HK sẽ ngưng ném bom BV và ngưng tăng cường quân lực Mỹ ở Nam VN, nếu BV cũng đình chỉ gởi người và vũ khí vào MN. Sau đó HK và BV sẽ tiến hành những cuộc mật đàm để giải quyết hòa bình vấn đề Nam VN. Trong thư trả lời, ông HCM cho biết nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa “không thể thương lượng dưới sự đe dọa của bom đạn Mỹ. HK phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chống lại nước VNDCCH, khi đó hai bên mới có thể đàm phán và thảo luận những vấn đề mà hai bên quan tâm”. (2)

  Trước khi ngồi vào bàn hòa đàm, Hà Nội dốc toàn lực vào cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khỏi Nghĩa Tết Mậu Thân 1968. Họ hi vọng trong khi đồng bào nô nức đón mừng năm mới, Lực lượng VNCH chỉ còn ½ cấm trại, lơ là trong việc phòng thủ vì đang có lịnh hưu chiến, họ sẽ đánh bại quân đội VNCH và sách động đồng bào tổng nổi dậy giành lấy chính quyền. Nhưng ước tính của ông HCM sai lầm, Việt Cộng “đã chịu một thất bại quân sự nặng nề. Hàng chục ngàn tên cán binh cuồng tín nhất, có kinh nghiệm nhất từ vùng rừng núi nhẩy vào vùng đồng bằng thôn quê gánh chịu những trận mưa bom chết người. Việt Cộng mất cả một thế hệ chiến binh và nhân dân thành phố cũng không chịu theo chúng”. (3)

   Sau này, Trần bạch Đằng, một cán bộ cao cấp MTGPMN, nguyên bi thư Thành ủy CS Sàigòn-Giađịnh, người đã trực tiếp chỉ huy các cuộc tấn công ở Sàigòn hồi Tết Mậu Thân, đã dành cho ký giả Úc Clayton Jones một cuộc phỏng vấn về biến cố này. Đằng nói: “Chúng tôi bị dồn vào thế phải tổng công kích, dù chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm nhiều giải pháp chính trị khác. Tôi đã thông báo điều này với chính Đại sứ Bunker vào năm 1967 khi chiến tranh sẽ là một điều tất yếu”. Ông cho biết từ 1966 đến 1969, Việt Cộng đã tiếp xúc nhiều lần với Mỹ để trao đổi tù binh. Đ/s Bunker đã can thiệp để trả tự do cho vợ của Đằng. (4) Đó là bà Trần thị Chơn sau đó trở thành phụ tác đắc lực của bà Nguyễn thị Bình trưởng đoàn MTGPMN tại hòa đàm Paris. Năm 1967 HK còn can thiệp để phóng thích bà Dược sĩ Phạm thị Yên, là vợ ông Trần bửu Kiếm. Năm 1969 ông Kiếm là trưởng đoàn đầu tiên của MTGPMN tại hội nghị bốn bên ở Paris, người tiền nhiệm của bà Bình.

   Sau thất bại hồi Tết Mậu Thân, từ tháng 5/1968, Hà Nội ngồi vào bàn đàm phán với HK -một điều mà họ luôn khước từ, nại cớ đó là công việc nội bộ của MNVN, vì thế HK phải nói chuyện với MTGPMN. Và từ tháng Giêng 1969, HK và BV thỏa thuận mở rộng cuộc thương thảo để hai bên miền Nam (VNCH và MTGP) gặp nhau để trực tiếp giải quyết công việc nội bộ của họ mà không có sự can thiệp của bên ngoài. Trong một phiên họp của hội nghị bốn bên ở Paris hồi tháng Tư 1969, ông Trần Bửu Kiếm trưởng đoàn MTGPMN đưa ra một đề nghị mới khiến BV sửng sốt: công việc miền Nam do nhân dân MN giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài. Điểm này tương phản với lập trường từ trước đến nay của Hà Nội là công việc nội bộ miền Nam phải được giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận GPMN.

   Tại chiến trường, Cộng quân không còn lực lượng trở về giành lại nông thôn vì nơi đây đã bị QLVNCH án ngữ. Mất địa bàn chiến lược nông thôn, lực lượng chủ lực còn sót lại phải rút về các mật khu ở biên giới Việt Miên. Đây là thời kỳ quật khởi của QLVNCH, chính phủ ban hành lịnh Tổng động viên, tăng cường lực lượng diện địa, mở chiến dịch Trần Hưng Đạo ở 5 tỉnh chung quanh thủ đô Sàigòn và chiến dịch Trương Tấn Bửu ở đồng bằng sông Cữu Long, phản công tái chiếm các vùng bị du kích CS chiếm đóng trước đây.

   An ninh ở MNVN đã được ổn định, mục tiêu ban đầu của HK là chận đứng sự bành trướng của CS ở Đông Nam Á theo thuyết Domino đã thành công. Nhờ sự can thiệp của HK ở Nam VN, phong trào CS ở Nam Dương đã bị dẹp tan. Mối rạn nứt Nga Hoa ngày càng phát triển làm cho mối đe dọa của đế quốc CS đã giảm bớt. TT Nixon quyết định chấm dứt vai trò chính ở MNVN, thực hiện kế hoạch Phi Mỹ Hóa (de-Americanize) giao trách nhiệm bảo vệ Miền Nam lại cho chính phủ VNCH, trả lại quyền tự quyết cho người dân miền Nam. TT Nixon tự nhận: trong quá khứ, HK đã giành độc quyền trong việc mưu tìm hòa bình, tình thế đã thay đổi, từ nay HK san sẻ trách nhiệm đó cho đồng minh. Theo ông, chỉ có cách đó mới khiến họ nghĩ rằng số phận của họ thực sự là của riêng họ. Người ta thường gọi kế hoạch này là “Việt Nam Hóa chiến tranh” (Vietnamizing the war) nhưng TT Nixon khẳng định đó là kế hoạch “Việt Nam Hóa việc tìm kiếm hòa bình” (Vietnamizing the search for peace).

     Trong kế hoạch “Việt hoá chiến tranh”, QLVNCH ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng để đảm nhận sứ mạng “Bảo Quốc An Dân”. QLVNCH vừa có trách nhiệm phòng thủ vừa yểm trợ các chương trình bình định đặc biệt và cấp tốc ở các vùng trọng điểm, giúp chính phủ thực hiện chương trình Ngày Cày Có Ruộng. HK đã viện trợ 100 triệu mỹ kim để bồi thường cho các điền chủ. Số ruộng truất hữu được cấp cho nông dân.

     Đầu năm 1972, TT Nixon đến TC và LX tìm sự thỏa thuận với hai nước CS đàn anh này để chấm dứt chiến tranh VN theo đúng lời hứa với nhân dân Mỹ khi ông chấm dứt nhiệm kỳ (20/1/1973). Hà Nội lại mở trận tấn công mùa Hè 1972 để giành tối đa ưu thế khi có ngưng bắn. Sáng ngày 30/3/1972 ba sư đoàn Cộng quân BV được 200 chiến xa và các đơn vị pháo 130 ly vượt vĩ tuyến 17, đánh chiếm toàn bộ khu vực từ giới tuyến quân sự đến Cửa Việt. Tại chiến trường trọng điểm bao quanh Sàigòn, Cộng quân điều động ba sư đoàn bộ binh được hai Trung đoàn chiến xa, bốn trung đoàn pháo và các đơn vị đặc công đánh chiếm quận lỵ Lộc Ninh, sau đó chúng tiến theo Quốc lộ 13 bao vây An Lộc (Bình Long). Tại Cao nguyên, Cộng quân tấn công Dakto, tràn ngập Bộ Chỉ huy Tiền phương Sư đoàn 22 Bộ binh ở Tân Cảnh. Tại Bình Định, ba sư đoàn chủ lực Quân khu 5 CS chiếm ba quận dọc miền duyên hải.

    QLVNCH đã chiến đấu tái chiếm cổ thành Quảng Trị, cố thủ Bình Long, giành lại các khu vực bị Cộng quân lấn chiếm trong mùa Hè 1972, trước khi có cuộc ngưng bắn khi HĐ Paris 1973 ra đời. Mục tiêu chiến đấu của người lính VNCH là vì dân chủ tự do, nhân quyền được tôn trọng, nhân dân được tự quyết định lấy vận mạng đất nước qua các cuộc tuyển cử tự do dân chủ có quốc tế giám sát. Tất cả các điểm trên đều được ghi rõ trong bản văn HĐ Paris 1973. QLVNCH đã hoàn thành nhiệm vụ, sau đó theo điều 12 của HĐ Paris, nhân dân MNVN được quyền quyết định tương lai chính trị MN thông qua một cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ có quốc tế giám sát. Hội đồng Quốc gia Hòa hợp và Hòa giải Dân tộc (HĐHGDT) gồm ba thành phần ngang nhau: VNCH, MTGP và Lực Lượng Thứ ba –là cơ quan sẽ đứng ra tổ chức tổng tuyển cử     

   Sau HĐ Genève 1954, người dân MN được sống những ngày thanh bình tự do tương đối ngắn ngủi, từ 1955 đến 1959. Rồi MTGPMN ra đời, chiến tranh nổi lên, một số đồng bào khá giả ở nông thôn có khả năng chạy ra lánh nạn các thị trấn, tỉnh thành, còn đa số nông dân phải sống trong vùng xôi đậu, oanh kích tự do, không thích CS cũng phải theo CS và trở thành nguồn cung ứng nhân vật lực cho MTGPMN. Sau 10 năm chịu đựng không biết bao nhiêu là tang tóc, từ năm 1970 cuộc sống của người dân quê bắt đầu đổi sắc, cùng với sự vắng dần những bóng ma du kích CS không còn ẩn hiện ám ảnh họ nữa. Luật NCCR ra đời, trong hòan cảnh an ninh ở nông thôn đã được vãn hồi. Người nông dân đã thực sự làm chủ mảnh đất mà họ đã đổi bằng chính  mạng sống của họ. Sắc luật 26/3 (1970 - NCCR) dành cho những người trực canh được làm chủ mảnh đất mà họ đang canh tác. Phần lớn những tiểu điền chủ mới này là những nông dân đã bám ruộng bám làng trong suốt những năm chiến tranh, con cháu họ đã bị CS bắt xung vào du kích và bộ đội, phần lớn đã hy sinh. Đây là phần thưởng mà chính phủ VNCH dành cho họ, hầu đền bù phần nào những mất mác trong thời chiến tranh.

   Với phân bón, máy cày, máy bôm nước, máy đuôi tôm được nhập cảng ồ ạt; với giống lúa Thần Nông cho nhiều năng xuất, với chính sách nâng đỡ giá lúa và miễn thuế 3 năm của chính phủ VCNCH, hầu hết nông dân trở thành phú nông hoặc tiểu điền chủ. Nhiều nông dân đã có máy truyền hình, mô tô hai bánh của Nhật và trang bị máy điện riêng. Mọi tiện nghi của một xã hội tiến bộ đã nằm trong tầm tay của người dân MN. Song song với chương trình Người Cày Có Ruộng, HK còn xúc tiến việc điện khí hóa nông thôn phối hợp với việc tái thiết và canh tân hệ thống cầu cống xa lộ toàn MN. Xa lộ nối liền Sàigòn với các tỉnh miền Trung kéo dài đến Quãng Trị, nối liền Sàigòn với Bình Long, Tây Ninh, Vũng Tàu và các tỉnh Hậu Giang. Các khu kỹ nghệ, các công trình đầu tư xây dựng mọc lên khắp nơi. Tất cả những nổ lực trên chứng minh cho sức mạnh và chính nghĩa của người quốc gia nhằm phục vụ cho cuộc tuyển cử thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MN sẽ được đề cập đến trong bản văn Hiệp định Paris và xa hơn nữa trong cuộc tuyển cử thống nhất đất nước theo điều 15 của HĐ Paris.

    Cuộc sống sung túc của người dân và triển vọng tương lai tươi sáng của đất nước có được là do máu xương của người chiến sĩ VNCH tạo nên. Dù quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tham chiến và chịu nhiều tổn thất, song QLVNCH cũng đã anh dũng chiến đấu và gánh chịu thương vong nặng nề. Để chống lại những lập luận của nhiều người Mỹ cho rằng “tại sao người dân Nam VN không chiến đấu để giữ quê hương của họ”, Tướng Lewis Walt cựu Tư lịnh TQLC Mỹ ở VN đã chứng minh bằng những con số tổn thất từ 1961 đến năm 1969 –năm mà tướng Walt mãn nhiệm kỳ ở VN: đã có trên 100 ngàn binh sĩ QLVNCH tử trận. Chỉ riêng hai năm 1968-1969: 39 ngàn bị thương, 132 ngàn bị thương và 3 ngàn mất tích. Tướng Walt kết luận: “Số thương vong khủng khiếp ấy có nghĩa là người ta không ngồi ở Sàigòn hoặc không ngồi tại nơi an toàn nào đó để chờ người Mỹ đến giúp”. (5)

   Cựu TT Nixon viết trong hồi ký: Trong hai năm sau khi hiệp định Paris được ký kết, nhân dân MNVN đã phải tự chiến đấu chống CS. Việc này chứng tỏ quyết tâm và lòng can đảm của nhân dân MNVN cũng như sự mong muốn của họ được sống trong tự do. Trong hơn hai năm trời đó, QLVNCH đã cô đơn chiến đấu, anh dũng chống lại kẻ thù. Báo chí và các cơ quan truyền thông thường mô tả người lính VNCH là những kẻ hèn nhát. Nếu những câu chuyện của báo chí và các cơ quan truyền thông kể lại là hoàn toàn đúng sự thật thì QLVNCH đã không thể chiến đấu dai dẳng như thế. Người lính VNCH đã chiến đấu anh dũng đến giờ phút cuối cùng”. (6) 

   Một phần tư thế kỷ sau, ngày 10/7/2001 Hạ Viện HK đã thông qua Nghị quyết H.C.R. 322 do Dân biểu Thomas M Davis, đơn vị quận 11, Virgina đệ trình ghi công sự hy sinh tính mạng của 250 ngàn bính sĩ VNCH và 750 ngàn ngàn đồng đội của họ bị thương kể từ 1961 đến 1975. Đây là lần đầu, một nghị quyết tuyên dương sự đóng góp của quân cán chính MN trong cuộc chiến đấu bảo vệ lý tưởng dân chủ tự do, được ghi vào lịch sử Quốc hội Hoa Kỳ. 

Chú  thích:

1-Henry Steele Commanger, Documents of American History, Vol II: Since 1898, Prentice Hall, Inc, New Jersey, 1973, P. 698.

2- Lyndon B. Johnson, The Vantage Point: Perspectives of the Presidency, Redwood Press Ltd, London, 1972, P.592-595.

3- Don Oberdorpher, Tet, Doubleday & Co, 1971, NY, PP.329-330.

4- Clayton Jones, Twenty Years Ago: The Tet Offensive – Viet Says: We Were Forced into Tet, The Christian Science Monitor, Vol 80, Feb 1-7, 1988.

5- Phạm kim Vinh, Nước mắt Việt Nam - Giọt lệ Kabul, Cơ sở PKV xuất bản, HK, 1981, Tr.54.

6- Richard M. Nixon, No More Vietnams, Arbor House, NY, 1985, P.201


Ba giờ với luật sư Nguyễn Mạnh Tường
 

LTS: Paris, tu n’es pas pour moi une découverte, mais un souvenir (Paris, đối với tôi Nàng không phải là một phát hiện, mà là một hoài niệm.) Cố giáo sư Nguyễn Mạnh Tường – nguyên thày học của bố tôi – đã viết như vậy khi ông lần đầu tiên đặt chân tới Paris. Ông là người duy nhất đã giành 2 bằng tiến sỹ luật khoa và tiến sỹ văn chương tại Đại học Montpellier năm ông mới 23 tuổi - một kỷ lục mà cho đến tận bây giờ cả người Pháp chính gốc cũng chưa ai phá nổi . Đó là ý nghĩ của nhà trí thức Nguyễn Đình Đăng về Cố Luật sư Nguyễn Mạnh Tường .

Không những thế Cố Luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn là một nhân chứng lịch sữ rất quan trọng cho thấy bộ mặt thực dối trá của lãnh tụ và chế độ cộng sãn đã xô đẩy đất nước và dân tộc VN vào ngỏ cụt , mà hậu quả nay có thể bị lọt vào ách đô hộ của Tàu . Bài tướng thuật sau đây dù đã thực hiện và đăng tải từ lâu , nhưng thực sự vẫn còn tầm giá trị lịch sữ rất cao đáng để phổ biến trong và ngoài nước .


Lâu nay, tôi cứ đinh ninh là luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã mất. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, tên tuổi của ông bặt đi. Có tin đồn là ông đã chết đâu đó ở một góc khuất tối tăm nào ở Hà nội.
Thế rồi, bỗng dưng tôi lại nghe là ông vẫn còn sống, hơn nữa, đang có mặt tại Paris : ông được phép sang Pháp ba tháng để thăm viếng một số bạn bè cũ của ông.
Được sự giới thiệu của một người quen, tôi và một anh bạn đã được luật sư Nguyễn Mạnh Tường tiếp trọn cả buổi chiều ngày thứ hai 27.11.1989.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường năm nay đúng 80 tuổi. Dáng người tầm thước, lưng hơi gù, da dẻ nhăn nheo, nhưng sức khoẻ khá tốt, đi đứng vững vàng, đặc biệt trí tuệ còn rất minh mẫn. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ chuyện trò, chúng tôi không hề bắt gặp ở ông một dấu hiệu nào của sự đãng trí vốn thường xuất hiện ở người cao niên. Ông nói năng lưu loát, đôi khi hùng hồn. Ông nhớ chính xác chi tiết những sự kiện cũ hoặc mới. Cách lý luận rành mạch.

Điều chúng tôi thích nhất ở ông là sự thành thật. Ở vào hoàn cảnh của ông, thành thật cũng có nghĩa là can đảm. Hơn ba chục năm bị đày đoạ, luôn luôn sống trong tâm trạng phập phồng chờ đón những thảm kịch thảm khốc nhất, ông không khiếp sợ đến nổi phải tự biến mình thành một con vẹt chỉ biết lải nhải lập lại những câu nói đã thành khẩu hiệu của chế độ hoặc co rút lại trong câm lặng, từ khước đối thoại để tránh khỏi nguy cơ bị hớ hênh, bị chụp mũ,.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một người đầu tiên tôi gặp, từ chế độ công sản, vẫn giữ được cái sĩ khí của một người trí thức, “uy vũ bất năng khuất”. Ông không hề từ chối bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi dù những câu hỏi đó bắt ông phải công khai bày tỏ thái độ với cái chế độ đã, đang, và có lẽ sẽ tiếp tục dập vùi ông.

Chúng tôi xin phép ghi âm buổi nói chuyện với một sự thiếu tự tin rõ rệt. Chúng tôi nghĩ là ông sẽ từ chối. Nhưng, không. Ông đã vui vẻ chấp nhận. Để bảo đảm sự trung thực, những chi tiết dưới đây, chúng tôi đều dựa vào bản ghi âm này.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước năm 1945, luật sư Nguyễn Mạnh Tường là một trí thức xuất sắc nhất của Việt Nam với thành tích đến nay tại Việt Nam dường như chưa có ai theo kịp : 22 tuổi đậu hai bằng tiến sĩ quốc gia tại Pháp, một bằng về luật và một bằng về văn chương. Về nước, ông hành nghề luật sư và dạy học. Ở cả hai lãnh vực, ông đều thành công và tạo được một uy tín to lớn.

Chúng tôi hỏi luật sư Nguyễn Mạnh Tường :
- Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào ?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đáp :

- Thật ra tôi không hề tham gia Mặt trân Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thứ phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thứ chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative). Nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi mong muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình : luật học và nghiên cứu văn học.

Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân văn Giai phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là Cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói : “Như Ngài đã biết, chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp : “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói : “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi”. Cuối cùng tôi nhhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội nghị Đà Lạt.

Chúng tôi hỏi:
- Luật sư giữ vai trò gì tại Hội nghị này ?
- Tôi là trưởng ban văn hóa và là uỷ viên trong ban chính trị.
- Cuộc hội nghị thành công tốt đẹp ?
- Vâng, về cuộc hôi nghị này, đã có nhiều ngườ viết. Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hôi nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung. Trong bữa tiệc ấy, tên tuỳ viên của thuỷ sư đô đốc Argenlieu đến cạnh tôi, nói là thuỷ sư đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn do đó không có tư cách gì để gặp gỡ thuỷ sư đô đốc cả. Tên tuỳ viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc điều gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi đứng dậy, rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước…

Chúng tôi hỏi:
- Luật sư có biết tin đồn đó xuất phát từ đâu không ?

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường cười:

- Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật, chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất.

Chúng tôi hỏi:

- Có thể coi đó là nguyên nhân khiến cho về sau cộng sản bạc đãi luật sư chăng ?
- Không phải. Cộng sản, những người tham dự hội nghị cùng với tôi, họ biết thực hư, đầu đuôi thế nào hết chứ. Đâu có phải vì tin đồn ấy mà ngườ ta bạc đãi tôi. Đối với trí thức, nói chung cộng sản dùng thì dùng, nhưng bảo là họ có mến yêu không thì tôi… không dám nói là có.

Chúng tôi hướng câu chuyện vào vấn đề chúng tôi quan tâm nhất và có lẽ nhiều người cũng quan tâm đến nhất:
- Theo các tài liệu được phổ biến tại miền Nam trước đây cũng như ở ngoại quốc, luật sư có tham gia vụ Nhân v&#ਲ